Ông được mọi người biết đến là "người họa sĩ già vẽ tranh truyền thần giữa phố cổ".
Nửa thế kỷ vẽ tranh truyền thần
Ngôi nhà số 47 Hàng Ngang nép mình khiêm tốn bên những shop quần áo thời trang hiện đại, nhưng lại rất hút khách qua đường. Ông Nguyễn Bảo Nguyên nay đã ngoài 70 tuổi (ảnh), đầu tóc bạc phơ, hằng ngày vẫn cặm cụi với những tác phẩm của mình. Bà con khu phố vẫn bảo, ông già rồi sao không nghỉ ngơi an dưỡng, suốt ngày hì hụi chi cho mệt người! Ông lại nghĩ khác, vẽ đến khi không đủ sức thì mới thôi.
Ngược dòng thời gian, ông kể ký ức tuổi thơ buồn, nhưng với ông, lại là bước ngoặt đưa ông đến với nghề vẽ tranh truyền thống. Năm 1960, chàng trai Bảo Nguyên là sinh viên khoa Vật lý, Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay là ĐH KHXH&NV). Tháng 6 năm ấy, Bảo Nguyên tích cực chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp đại học thì không may bị một trận ốm thập tử nhất sinh.
Hơn một tháng nằm điều trị bệnh, nỗi đau thể xác giày vò cùng với sự suy sụp tinh thần ghê gớm. Không thể tốt nghiệp đại học, đã thế, gia đình chạy vạy tiền thuốc men điều trị căn bệnh mạn tính của ông nên rất khó khăn. Khỏi bệnh, ông chỉ mong sẽ kiếm được công việc gì đó để gia đình vơi gánh nặng.
Lang thang khắp phố phường Hà Nội, việc nào ông cũng thử sức, nhưng cuối cùng, tranh truyền thần lại vận vào người ông. Ông kể: “Nghề vẽ tranh truyền thần khi đó phát triển rất hưng thịnh. Số người vẽ tranh lên đến hơn 400 người, nhà nào cũng đỏ đèn từ sáng sớm đến tận đêm khuya mà vẫn không hết việc”.
Ban đầu, ông vừa là khách xem tranh, vừa học lỏm nghề rồi tự mày mò vẽ trên giấy nháp. Vốn yêu thích vẽ tranh từ nhỏ nên các bức tranh phác họa chân dung bạn bè của ông, ai nấy đều khen nét vẽ đẹp, có hồn và đặc biệt như thấy được thần thái của chính họ. Ông bước vào nghề vẽ tranh truyền thần từ đó.
Vẽ truyền thần đòi hỏi lòng kiên trì bền bỉ, có chút năng khiếu hội họa và đặc biệt là phải có niềm đam mê. Để trở thành thợ vẽ truyền thần phải mất ít nhất 5 - 6 năm học hỏi, thợ lành nghề cần khoảng 7-10 năm, có khi phải theo đuổi cả đời. Đến nay đã tròn 50 năm ông Nguyên ngồi vẽ tranh giữa lòng phố cổ. Có những bức vẽ “ngốn” của ông hàng tháng trời cực nhọc mới xong, nhưng ông vẫn say nghề.
Ông tự học và nói thạo tiếng Anh để có thể nói chuyện với khách ngoại quốc về tranh truyền thần VN. Thời vàng son của nghệ thuật truyền thần đã lùi vào dĩ vãng kể từ khi nhiếp ảnh ra đời. Dù vậy, ông vẫn vui và tâm huyết với cái nghề mà người theo nó đến nay chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Bảo tồn nghề quý
Theo ông Nguyên, vẽ tranh truyền thần nghĩa là phải làm sao truyền được cái thần thái của con người vào trong tranh. Vẽ theo di ảnh đã khó, đã thế ông còn vẽ cả những nhân vật lịch sử chỉ qua lời mô phỏng như cụ Vũ Tông Phan, cụ Ngô Sĩ Liên... Thế là lại phải mày mò, phải đọc lịch sử, tiểu sử nhân vật... cho nên, có thể nói ông khá thông thạo kiến thức sử học.
Trước kia, muốn có bột màu đen để vẽ phải dùng phễu hứng lên ngọn đèn dầu hỏa để muội đèn đọng lại. Nay nhờ công nghiệp phát triển nên có thể sản xuất bột đèn vẽ, nhưng ông vẫn thích “thứ muội đèn vừa mịn lại bền màu, phơn phớt vàng nâu vẽ trên nền giấy trắng rất “ăn”, không đen nhánh như mực công nghiệp”.
Ông chia sẻ: “Tranh bền, đẹp, nhưng quan trọng là phải biết bảo quản tranh trong khung kính, tránh ẩm ướt và mối mọt. Chỉ có 2 màu đen - trắng đó thôi, nhưng tranh truyền thần của tôi có thể để đến hàng trăm năm mà không lo bị hỏng”. Tiếng lành đồn xa, ông nhận được nhiều đơn đặt hàng của khách nước ngoài.
Ông hồ hởi “khoe” với tôi những bức truyền thần các ngài đại sứ Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Tiệp Khắc, Bộ trưởng Ngoại giao Campuchia... và cuốn kỷ yếu trong lần triển lãm tranh truyền thần tại Nhật Bản năm 2001.
Căn nhà - xưởng vẽ của ông chỉ rộng chừng 10m2, là nơi nhiều lượt khách đến rồi đi và tình cảm họ dành cho ông vẫn sâu đậm. Ông vô cùng xúc động khi chứng kiến có người đã khóc khi thấy bức truyền thần mà ông thổi hồn lại giống họ đến như vậy. Vừa kể, ông vừa giở cho tôi xem tập thư dày cộp của những vị khách nước ngoài email thăm hỏi và cảm ơn ông. Hàng trăm bức truyền thần đã đến với nước bạn, đem tinh hoa văn hóa dân tộc hòa nhập với văn hóa nhân loại. Đó là điều hạnh phúc nhất mà nghề đã đem lại cho ông.
Ở cái tuổi 77, lưng đã còng, đôi tay cũng không được lanh lẹn như xưa, nhưng ông Nguyên vẫn đau đáu nỗi lòng bảo tồn nghề quý và phát triển nó lên trình độ cao hơn nữa. Ba cậu con trai thì chỉ có anh Nguyễn Bảo Lân phụ nghề cùng bố. Cũng có một vài người đến xin học nghề, nhưng được một thời gian lại bỏ đi. Cho nên lúc nào ông cũng canh cánh nỗi lo nghề quý của cha ông sẽ ngày càng mai một.