Đang tải.....
Thứ tư, 17/2/2010, 14:4 (GMT+7)

Trên một triền đất không lấy gì làm rộng lớn dọc hai bờ sông Hồng, từ thượng du xuôi tới cửa biển, nhìn lại một nghìn năm khoa cử nước nhà, liệu đã có thể tìm được mấy dòng họ đời nào cũng có người đỗ đạt hiển vinh? Lê Quý Đôn khi ngồi chép sử cách đây 500 năm  đã tự hỏi mình như thế, sau đó đến Phan Huy Chú cách đây 200 năm cũng lại hỏi mình như thế và cả hai đều đã ghi "Chỉ thấy duy có một họ Bùi mà thôi!".

Mới đây thấy có cụ Vũ Tuấn Sán nhắc lại sự thể này trong công trình khảo cứu đầy đặn  Hà Nội xưa và nay ở mục kể về danh nhân văn  hóa  Bùi Xương Trạch. Đây là một bộ sách quý, là tập đại thành của một học giả đương thời, có một cuộc sống ba chìm bảy nổi mà nhiều kiêu hãnh và rất đáng trân trọng.

Vào một năm đầu thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước, thành phố Hà Nội có lúc đã định chọn ngôi nhà riêng của cụ phó bảng Bùi Kỷ để làm chỗ ở cho ông bà Đại sứ một nước nào đó. Biết chuyện ấy, Bác Hồ liền cho gọi hai vị Bí thư và Chủ tịch lên, vừa gặp, Bác đã hỏi: "Hà Nội hết nhà rồi hay sao mà các chú phải lấy nhà của ông cụ?". Lúc sắp qua đời, nằm trong Bệnh viện Việt Xô, cụ phó bảng còn cầm bút viết lá thư bái biệt gửi lên Bác. Xem thế đủ thấy cách khu xử của các cụ nhuần nhụy biết chừng nào!

Ngày Bác mất, báo Nhân Dân cho người đi tìm học giả Cao Xuân Huy để xin cụ có một đôi lời. Ông cụ đã viết thế này: "Cụ Hồ là người cần kiệm mà không hà tiện, giản dị mà không lầm than, đầy đủ nhân trí dũng, đã có thể được gọi là một người lão thực!".

Đấy là lời bàn của một học giả vốn là hậu duệ một dòng tộc mấy đời làm quan ngự sử dưới triều Nguyễn. 

Một lần qua Mỹ, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã tìm đến thăm ông Bùi Diễm là con trai cụ phó bảng Bùi Kỷ. Ông Diễm là tiến sĩ Luật, có ông nội, cụ nội đều là tiến sĩ Nho học. Nhà ấy thuộc loại danh gia vọng tộc. Ông Diễm cũng như cụ thân sinh đỗ đạt cao nhưng không ra làm quan, cả hai bố con đều chọn nghề dạy học, làm báo. Những năm sau 1954, vào Sài Gòn, ông Diễm là tổng biên tập một tờ báo tiếng Anh có uy tín. Vào thời đó, sớm sớm các nhà báo phương Tây thường ngồi túm tụm với nhau bên những tách cà phê nóng trên tầng thượng mấy khách sạn lớn giữa lòng thành phố. Họ thăm dò nhau, trao đổi qua lại về đủ thứ chuyện thời cuộc, tay người nào cũng thấy có cầm tờ báo vừa ra của ông Diễm. Với họ, tờ báo ấy là một người bạn, một nguồn tin đáng tin cậy nhất.

Gặp nhau, anh Duật hỏi, thưa anh, có thể thâu tóm chỉ bằng một vài câu nước Mỹ là thế nào được không? Ông Diễm trả lời luôn: Tôi qua  bên này là để kế nhiệm ông Trần Văn Chương là Đại sứ Việt Nam cộng hòa tại Hoa Kỳ. Hết nhiệm vụ đó được mời lại làm cố vấn cao cấp tại Liên hợp quốc đã có trên ba chục năm sống tại Mỹ, vậy mà tôi vẫn chưa hiểu nổi nước Mỹ. Anh Duật lại hỏi, chiến tranh Việt Nam chấm dứt khá lâu rồi, liệu đã tới lúc người Việt ở cả hai phía có thể ngồi lại chuyện trò với nhau trong cùng một mâm chưa? Nghĩ hồi lâu, ông Diễm mới nói, e còn khó, có lẽ phải chờ đến lớp trẻ.

Họ cả cười rồi hai người bảo nhau quay sang nói chuyện về Hà Nội. Trở về chuyện Hà Nội bao giờ cũng dễ gần gụi và bao giờ cũng thú vị. Hà Nội hôm nay, Hà Nội thuở xưa, Hà Nội của mỗi người trong chúng ta, rất riêng tư mà cũng rất chung. Thời gian đi như ngựa lồng, thời thế đổi thay liên miên, những triều đại huy hoàng, những triều đại tàn lụi, thế kỷ nào cũng lắm vật vã, chỉ những góc thành cổ kính là vẫn đứng nguyên đó, chỉ những con đường là vẫn rợp bóng cây. Và từ trong những tiếng trẻ rao đêm, từ trong những tiếng chào thưa lảnh lót của mấy bà, mấy chị, ta đang nghe thầm một lời nhắn nhủ dịu dàng.

Sông Hồng hạ về nước lên thu qua nước rút, bơ vơ bờ bãi bơ vơ đám người, Hà Nội vẫn thế, lam lũ mà yêu dấu. Cuối năm 1945, cả nước gấp rút Tổng tuyển cử, những ngày đó Bác Hồ thường cho một thư ký riêng xuống liên lạc với cụ Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố để trao đổi công việc. Nhà riêng cụ Tố ở phố Hàng Bát, gia đình có cửa hiệu bán bát. Ông cụ là người am hiểu cả Hán học lẫn Tây học được người Pháp mời vào làm ông phán tại Viện Viễn Đông bác cổ. Làm ở đấy nhưng vẫn cần mẫn cộng tác với tạp chí Tri Tân do cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường  Phượng chủ trương, cụ Tố giữ chuyên mục Những ông nghè thời Lê với hàng loạt bài khảo cứu sâu sắc, có thể xem đây là người đầu tiên đã vào bãi bia Văn Miếu, soi rọi từng tên tuổi để mong từ đó thắp sáng lên một tinh thần thuần Việt giữa buổi mịt mùng nước mất nhà tan. Là một trí thức yêu nước, cụ Nguyễn Văn Tố đã đứng ra tổ chức  phong trào truyền bá quốc ngữ được đồng bào cả nước hưởng ứng mạnh mẽ. Nhiều năm nhiều tháng, ông cụ đi về trên những lối nhỏ  chật hẹp quanh co của khu phố cổ, bất kể mưa hay nắng, hễ bước ra đường là cụ mang ô. Bóng dáng một người đàn ông thấp nhỏ áo the khăn đóng đi men dưới mái hiên những ngôi nhà già nua đã trở thành một ấn tượng khó phai mờ trong ký ức người Hà Nội khi ấy, họ yêu quý gọi cụ là cụ Phán men. Mỗi lần tới nhà cụ bàn việc, lúc đứng dậy ra về bao giờ người thư ký cũng không quên rút từ trong cặp ra một chai rượu ngon và nói, thưa cụ, Bác cho tôi mang chai rượu xuống biếu cụ. Cụ Tố nhận quà và cảm ơn.

Đến lần tặng rượu thứ ba, vừa đưa hai tay nhận quà, cụ Tố vừa nhỏ nhẹ, nhờ anh thưa lại là cụ đang hiểu lầm tôi rồi đấy. Người thư ký vội về thưa lại, Bác ngồi yên lặng hút thuốc. Rồi Bác quay ra hỏi, ông cụ trách vậy, ý chú thì sao? Người thư ký thưa, hình như cụ Tố không uống rượu. Bác bật cười, châm tiếp một điếu thuốc, phải, chúng ta đã nhầm, phán men không phải là phán rượu. Đây là người một đời men tường mà đi, quân tử nép tường mà đi, chú biết ai đã nói thế không, là Khổng Tử đấy!

Trong những bức tranh vẽ phố cổ của họa sĩ Bùi Xuân Phái có một bức vẽ người đàn ông áo the khăn xếp mang ô đen đứng nép mình bên bức tường gạch loang lổ hoang phế vào một chiều đông vắng lặng. Hà Nội hiện ra trong tranh của ông buồn một cách sang trọng. Phố Phái buồn và còn có một vẻ gì u uẩn nữa, như thể vẫn đang có bóng một chiếc ô trôi ngoài cửa sổ những ngôi nhà nhấp nhô như sóng. Đấy là những nét thời gian không thể phai mờ. Những năm tháng ấy, những lớp người ấy, theo dòng đời cứ trôi đi mãi, bất tận và hóa nên Hà Nội nghìn năm.

Đỗ Chu