|
Ông Giàng Seo Vu, Trưởng ban đại diện cộng đồng dân tộc Mông
Hẹn trước, chúng tôi được ông tiếp đón ân cần. Ông kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời khốn khó của bà con dân tộc mình mấy mươi năm trước. Huyện Bảo Thắng lúc đó đang nhức nhối nạn di cư tự do, nhiều phần tử cơ hội lợi dụng sự thật thà, cả tin của bà con để truyền đạo trái phép, ảnh hưởng đến tình hình an ninh của địa phương. Từ năm 1997 đến nay, riêng bản làng Có Hai đã có hơn 20 người di cư vào Thanh Hóa, Đắc Lắc sinh sống. Đứng trước nguy cơ cộng đồng dân tộc Mông bị phân hóa, ông Vu đã kiên trì vận động từng người dân trong bản không nghe, tin theo kẻ xấu. Nhờ có sự kiên trì, bền bỉ đó mà an ninh địa phương đã từng bước được ổn định.
Giọng nói sang sảng, gương mặt kiên nghị, ông như truyền thêm sức mạnh, niềm tin cho người khác: Ngày nhỏ, tôi thường được cha mẹ kể về những chuyến di cư của tổ tiên. Ngày ấy, suốt dải rừng Simacai còn vắng bóng người, trên những đỉnh núi cao chỉ có đồng bào dân tộc Mông sinh sống, dưới lưng chừng núi thưa thớt chỉ có vài ba hộ người Thái, người Tày. Cuộc sống của bà con chỉ dựa vào săn bắt, hái lượm, ăn ngủ trong những hang đá nơi rừng sâu, núi thẳm. Cái đói, cái nghèo và bệnh tật đã cướp đi sinh mạng của nhiều người, dân số của bộ tộc cứ giảm dần qua bao mùa rẫy. Trước nguy cơ đó, ông Vu đã bàn với dân làng tiến hành một cuộc di dân lịch sử đưa bà con đến định canh, định cư ở vùng đất mới. Mảnh đất làng Có Hai ngày nay được chọn làm nơi an cư của hơn 49 hộ với 280 khẩu tộc người Mông. Những ngày đầu lập bản mới khó khăn chồng chất khó khăn. Được sự giúp đỡ của bộ đội Biên phòng, sau hơn hai năm định canh, định cư, người Mông bản ông đã có lúa, ngô đầy bồ. Cũng trong năm đó, ông đã vận động bà con hiến đất mở đường vào bản. Qua bao mùa rẫy, hàng ngàn khối đất đá được san phẳng thành con đường dài hơn trục cây số, đó là thành quả của những ngày ông Vu cùng bà con dầm mình trong những ngày nắng cháy và những trận mưa rừng xối xả. Con đường đã giúp cho việc giao thương, buôn bán của bà con có điều kiện phát triển.
Khi trên gác bếp đã có đủ hạt thóc, củ khoai, ông Vu mới tìm cách làm giàu trên mảnh đất còn nhiều nghèo khó. Để có đất sản xuất, ông cùng bà con khai hoang hàng ngàn ha đất trống, đồi núi trọc để trồng cây công nghiệp lâu năm. Dẫn chúng tôi qua những cánh rừng keo, mỡ đang vươn mình trong nắng gió, ông Vu hào hứng kể: Trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nên người Mông ưng cái bụng lắm. Nhà nào trong bản cũng có từ 3 - 4 ha rừng trở lên, gần 7 ha rừng của gia đình ông Vu cũng đang chuẩn bị cho thu hoạch. Đây là nguồn vốn giúp địa phương vươn lên phát triển kinh tế.
Kể từ ngày có bản mới, người Mông thôn làng Có Hai ngày một đông. Tính đến nay, số hộ người Mông tăng gấp ba lần so với những ngày đầu. Từ khi di cư xuống bản làng Có Hai thuộc huyện Bảo Thắng, cuộc sống người dân nơi đây đã có sự thay đổi đáng kể.
Điều làm ông Vu tâm đắc nhất, cán bộ và nhân dân làng Có Hai đoàn kết một lòng theo Đảng, Bác Hồ, bởi trong sâu thẳm tâm hồn bà con hiểu rằng để có cuộc sống như ngày hôm nay là nhờ ơn Đảng dìu dắt. Cuộc sống của bà con nơi biên ải xa xôi này đang vững bước đi lên.
Nguyễn Phượng
|