Đang tải.....
Chào bạn!      
Phóng sự - Tư liệu 
Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn
11:00:00 05/09/2010
Người Chánh Văn phòng Khu giải phóng Tân Trào ngày ấy là cụ bà Trần Thị Minh Châu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Cục trưởng Cục Xuất bản Bộ Văn hóa… năm nay 88 tuổi đời, 70 tuổi Đảng. Chiều 19/8, đúng kỷ niệm 65 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đến thăm cụ.

Có thể nói rằng, cụ bà Trần Thị Minh Châu là một nhà báo lão thành, vì cụ từng tham gia viết Báo Đảng bí mật từ thời kỳ Mặt trận Bình dân năm 1939 với các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Đào Duy Kỳ… Rồi sau đó cụ là người phụ trách (như tổng biên tập bây giờ) tờ Báo Bãi Sậy ở Hưng Yên (cùng nhà văn Học Phi)... Những năm gần đây, cụ vẫn viết báo, viết sách. Còn bây giờ: "Bà già rồi, yếu rồi, không còn viết nữa, chứ cũng có nhiều chuyện đáng để viết lắm đấy". Tôi xin cụ kể cho nghe những kỷ niệm ở Tân Trào ngày cụ làm Chánh Văn phòng Khu giải phóng. Cụ Trần Thị Minh Châu hồi tưởng…

Cho tôi gặp đồng chí Chi

Tháng 4 năm 1945, đang công tác tại Võ Nhai - Đình Cả (Thái Nguyên), sau khi chỉ huy Cứu Quốc quân đánh thắng thực dân Pháp liên tiếp ở Tràng Xá, La Hiên và Đình Cả thì có quyết định của cấp trên điều tôi về Tân Trào nhận nhiệm vụ mới.

Sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, tôi đã đến được Tân Trào thuộc châu Tự Do (Sơn Dương - Tuyên Quang) Thủ đô cách mạng. Tại Tân Trào đã thành lập Ủy ban khu giải phóng Trung ương lâm thời gồm sáu tỉnh: Cao Bằng - Bắc Kạn - Lạng Sơn - Hà Giang - Tuyên Quang - Thái Nguyên do đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng) làm Chủ tịch, đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) làm Ủy viên Thường trực. Cạnh nhà của Ủy ban khu giải phóng Trung ương có hai đơn vị là Ban quản lý do đồng chí Lý (Hoàng Hữu Kháng) phụ trách và Văn phòng, khi tôi về liền được cử phụ trách, lấy bí danh là Chi.

Một hôm có một đồng chí lên Tân Trào vào Văn phòng đề nghị: Cho tôi gặp đồng chí Chi. Vâng, mời anh vào. Ông ấy cứ loay hoay mãi: Tôi có việc cần lắm, chị cho tôi gặp đồng chí Chi ngay, càng sớm càng tốt. Tôi chỉ muốn gặp đồng chí Chi để giải quyết công việc này, xong tôi phải về ngay. Lúc bấy giờ buồn cười, tại sao mình không nói tôi là Chi đây, lại cứ vâng mời anh vào làm việc.

Thấy khách cứ băn khoăn đi ra đi vô, cậu Nguyễn Chính (tức Du Phong) đang ngồi đánh máy ở phòng trong, chạy ra bảo: Thì đồng chí Chi là đồng chí này chứ còn ai nữa mà từ nãy giờ cứ lằng nhằng mãi. Ông kia ngạc nhiên, chị là đồng chí Chi à? Vâng, tôi là Chi. Ngồi làm việc một lúc lâu, đến khi xong việc, ông ấy đứng lên bảo: Tôi xin lỗi chị, tôi tưởng Chi là anh Chi. Tôi bảo có gì đâu mà phải xin lỗi.

Thì ra, các tỉnh trong vùng giải phóng nhận được công văn từ Văn phòng Khu giải phóng, lại nghe nói người phụ trách Văn phòng là đồng chí Chính trị viên Cứu Quốc quân từng chỉ huy đánh thắng quân Pháp ở Võ Nhai. Họ cứ yên chí đây là một nam giới nên rất bất ngờ khi thấy đó là một cô gái trẻ đẹp mới 23 tuổi.

Chiếc áo Bác Hồ

Thời gian ở Tân Trào, tôi cùng anh em được xếp ở nhà ông Tiến Sự là một già bản có uy tín nhất làng Kim Long. Hằng ngày, tôi được anh em và đồng bào kể nhiều chuyện về "Ông Ké" người dong dỏng cao, quắc thước, nhanh nhẹn, đặc biệt ông có đôi mắt rất sáng, rất tinh anh. "Ông Ké" mới về đây được vài tháng đã dựng lán bên lưng núi Nà Lừa để ở và làm việc. Nhưng ông luôn quan tâm đến đồng bào nên được đồng bào vô cùng quý mến.

Phải hơn một tháng sau khi tôi đến Tân Trào công tác, đồng chí Lê Giản mới "bật mí" cho tôi biết "Ông Ké" chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, là Cụ Hồ Chí Minh.

Với anh em phục vụ, "Ông Ké" luôn gần gũi và quan tâm. Lúc đó bên cạnh lán của Bác còn có lán điện đài liên lạc với quân Đồng Minh do một số người Mỹ trong nhóm tình báo "Con Nai" của OSS làm việc. Mỗi lần đi công tác với các bạn Mỹ về, bao giờ Bác cũng có quà, dù món quà rất đơn giản, cho mọi người, nhưng đó là thể hiện tấm lòng của Bác.

Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên trong cuộc đời của mình. Một hôm, Bác được các bạn người Mỹ tặng chiếc áo bludông để mặc vào mùa đông giá rét. Bác không dùng cho riêng mình mà đem ra cho anh em. Nhưng cơ quan Ủy ban Giải phóng rất đông người nên Bác bảo hãy bắt thăm để cho công bằng. Thấy tôi ngồi im lặng không tham gia, Bác bảo tôi cũng phải bắt thăm. Tôi giãy nảy vì người tôi bé nhỏ, còn cái áo thì vừa to vừa rộng thùng thình làm sao tôi mặc được. Bác ôn tồn nói: "Cô vẫn phải tham gia bắt thăm, không phân biệt nam nữ". Cuối cùng tôi lại chính là người bắt trúng, cái áo thuộc về tôi. Lúc đó Bác mới nhẹ nhàng: "Bác không tặng cái áo này cho cô Chi đâu. Cô giữ lấy đến khi nào chú ấy ở ngoài Côn Đảo về thì để chú ấy mặc".

Tôi sửng sốt quá vì chưa bao giờ tôi thấy Bác hỏi về hoàn cảnh gia đình tôi. Vậy mà Bác biết rõ anh Đào Duy Kỳ, chồng tôi, đang ở nhà tù Côn Đảo. Tôi cảm động quá không cầm nổi nước mắt, nước mắt cứ nhạt nhòa. Tôi thấy tấm lòng của Bác thật mênh mông. Đó là tấm lòng của người cha vô cùng tôn kính, vô cùng thân thương, luôn luôn lo lắng, chăm sóc hết mực cho con cái. Từ đó, đi đâu tôi cũng mang chiếc áo theo bên người.

Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Bác và các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn… về Hà Nội. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Lê Giản… và tôi được Bác giao nhiệm vụ vẫn tiếp tục ở lại xây dựng và củng cố căn cứ Việt Bắc.

Cuối tháng 9/1945, trước yêu cầu mới của cách mạng, chúng tôi lần lượt về Hà Nội nhận nhiệm vụ. Đồng chí Phạm Văn Đồng làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng chí Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an Trung ương. Tôi tham gia phong trào Nam tiến, cùng đoàn với đồng chí Lê Đức Thọ, để có điều kiện sớm gặp anh Đào Duy Kỳ vừa được đón từ Côn Đảo về đất liền.

Bà Trần Thị Minh Châu (thứ 3, từ phải qua) và Đội Du kích Võ Nhai.

Bác Hồ và những người lính Mỹ (0SS)

Cũng trong khi ấy người Mỹ muốn xâm nhập Đông Dương để ngăn chặn sự tấn công của Nhật ở phía Nam Trung Quốc và Đông Dương. Họ gặp phải nhiều khó khăn, nên cũng cần tìm một đối tác hợp lý để nhanh chóng vào sâu Đông Dương.

Một sự kiện tình cờ đã đến - một máy bay của Mỹ bị trúng đạn Nhật, phi công đã nhảy dù xuống vùng núi gần thị xã Cao Bằng - được Việt Minh cứu.

Bác Hồ đã lệnh phải bảo vệ an toàn và bí mật đưa về gặp Bác. Người phi công ấy là Trung úy Sao (William Shaw).

Bác Hồ đã gặp Sao nói chuyện chân tình. Quà tặng cho Sao là một tấm lụa trắng thêu dòng chữ tiếng Anh "Chúc mừng khách đến", một tấm vải đỏ có chữ ký của nhiều hội viên Mặt trận Việt Minh ủng hộ Đồng Minh chống phát xít.

Bác Hồ còn tặng Sao một bản dịch tiếng Anh toàn văn bản Chương trình Việt Minh rồi cho người đưa Sao về Côn Minh. Sao đã báo cáo tất cả những gì tai nghe mắt thấy, tất cả sự chăm sóc bảo vệ của Việt Minh cho tướng Sê-nô (Claire L. Chernault).

Sau đó không lâu, Bác Hồ với danh nghĩa là phái đoàn của Việt Nam độc lập đồng minh sang đàm  phán với Mỹ - Đồng minh về hợp tác đánh Nhật, đã gặp được tướng Sê-nô. Qua sự phản ánh của Trung úy Sao - qua tình báo riêng của Bộ Tư lệnh - và cũng qua sự tiếp xúc với Bác Hồ, người Mỹ rất vui mừng vì đã nhận được những thông tin hết sức quan trọng về quân Nhật trên lãnh thổ Đông Dương. Ngoài ra Việt Minh còn giúp đỡ cứu trợ những phi công Mỹ bị nạn và những gì mà Đồng minh yêu cầu.   

Về phía Việt Minh, Bác Hồ chỉ mong muốn Mỹ giúp đỡ vũ khí, điện đài và giúp đào tạo cán bộ, nhân viên sử dụng vũ khí, điện đài.

Tướng Sê-nô đã tin cậy đáp ứng mọi yêu cầu của Bác Hồ.

Khi trở về Việt Nam, theo Bác có hai người Mỹ cùng đi. Họ trở thành những người Mỹ đầu tiên có mặt ở Khu giải phóng Việt Nam. Họ có nhiệm vụ đón tiếp những người Mỹ khác sẽ lần lượt đến.

Trong chuyến đi này, Bác giành được hai mục đích: Một là đã gây được thiện cảm với Mỹ - Đồng minh, tranh thủ được sự giúp đỡ của Mỹ - được Mỹ công nhận vai trò của Việt Nam trong sự hợp tác đánh Nhật. Hai là đã tạo được thế vững chắc cho cách mạng Việt Nam bên cạnh người bạn láng giềng Trung Quốc.

Vào lúc 16h ngày 16/7/1945, chúng tôi đón đoàn phi công nhảy dù xuống Tân Trào gồm 6 người do Thiếu tá Tô-mát chỉ huy.

Để chuẩn bị tiếp đoàn Mỹ, Bác Hồ bảo chúng tôi phải làm một bữa tiệc mừng.

Chúng tôi lại chụm đầu vào bàn bạc: Khó quá, ở giữa rừng này làm gì có thực phẩm, bát đĩa cũng không. Cũng chẳng ai biết nấu cơm tây, lại còn tiệc tây nữa.

Biết nỗi lo của chúng tôi nên Bác nói:

- Các chú, các cô bí rồi phải không? Vậy hãy cho người sang Định Hoá nhờ Chủ tịch Chanh mua giúp cho con bê - đem về thui chín vàng, để cả con nằm trên chõng tre. Hai bên làm dẫy ghế ngồi cũng bằng tre nứa. Sắp mỗi người một con dao (người Mỹ đã sẵn có dao và nĩa). Có đĩa muối, đĩa gừng, có rượu do đồng bào tự nấu, uống bằng bát to. Mọi người tự do thích ăn chỗ nào thì tự cắt lấy.

Chúng tôi nhìn nhau ngần ngừ. Bác như đã hiểu, Người giải thích luôn: "Không có gì ngại cả - kể cả Tây và ta, không phải ai cũng được ăn một bữa tiệc dân dã trong rừng đâu. Cứ làm đi, để rồi xem họ có thích không? Còn thú vị lắm nữa kia!". 

Quả là sau đó, đoàn Mỹ rất hài lòng, mừng rỡ lắm. Chúng tôi lại thì thầm với nhau:

- Đúng là Bác không chỉ rành việc lớn  mà thạo cả việc nhỏ, mọi việc đều chu đáo!

Đoàn Mỹ sang Việt Nam chỉ mang theo lương khô. Bác lại bàn phải lo thực phẩm tươi sống cho họ. Mỹ bây giờ là đồng minh, là bạn của mình, nên phải chăm lo sức khỏe cho họ, không để họ sống thiếu thốn, kham khổ như mình.

Ủy ban Khu giải phóng đóng ở Tân Trào, nhân dân huyện Sơn Dương vốn rất nghèo. Chúng tôi phải sang huyện Định Hóa bàn với Chủ tịch Chanh. Đồng chí Chanh nhận lời ngay và cử hai hội viên là Nguyễn Văn Sách và Ma Văn Bầu lo việc này.

Từ đấy cứ cách hai ba ngày có một đoàn người vừa gánh vừa khiêng những đậu, thịt, rau, trứng, măng từ Định Hóa sang… Họ phải leo qua đèo De, luồn rừng trên 20 cây số mới đến được Tân Trào. Các bạn Mỹ thích ăn thịt thú rừng nên có khi được cả một con dê, hay có lần một con nai còn nguyên cặp lộc nhung mềm.

Có mấy tháng liền nhân dân Định Hóa tiếp tế cho cả Khu giải phóng, trong khi ấy gia đình con cái họ chỉ ăn con cá, con ốc bắt được ở suối với lọ măng ngâm ớt.

Đồng bào nói: Mình nuôi bạn Mỹ để Mỹ cùng Bộ đội Cụ Hồ đánh Tây, đuổi Nhật, nước Việt Nam được độc lập tự do, mình sẽ được ấm no.

Trước khi Bác về Hà Nội, Bác lại dặn chúng tôi:

- Ta chẳng có tiền, cũng chẳng có vật gì kỷ niệm cho đồng bào. Có đống dù của Mỹ, các cô chịu khó tháo từng ô đem biếu đồng bào. Tính theo đầu người, mỗi người một mảnh. Đồng bào có thể cắt may áo, may chăn.

Nhận được món quà nhỏ từ những tấm vải dù nhân dân rất là phấn khởi.

Đồng bào Sơn Dương, Định Hóa, cũng như mọi người dân Việt Nam đã có tập quán nuôi quân, khi còn là du kích, dân quân tự vệ. Nhân dân không chỉ nuôi ăn mà còn mang cả quần áo, lo giày dép, thuốc men. Không bao giờ nhân dân đòi thanh toán. Họ nói: Con cái góp cho cách mạng còn được, thì tài sản của dân cũng là của cách mạng, của nước nhà


Kiều Mai Sơn

Ý kiến của bạn
Tên của bạn:
Email:
Tiêu đề:
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR

Xem tiếp 
Các bài mới:
     Những vị sư tận tâm vì đạo, vì đời (08/02)
     Cuộc chiến chống ma túy trên đỉnh Pú Nhi (06/02)
     Tết của lính Hải quân nơi thềm lục địa (31/01)
     Giữa trùng khơi càng quyết tâm giữ biển (31/01)
     Có phát huy dân chủ thì đất nước mới có được các trí thức lớn (31/01)
     Xuân về càng nhớ Trường Sa (28/01)
     Anh hùng Trần Văn Năm: Luôn nhớ về những đồng đội đã đi xa (26/01)
Các bài đã đăng:
     Đại tướng Chu Huy Mân: Lần đầu tiên được Bác Hồ giao nhiệm vụ (03/09)
     Bác Hồ trong những ngày đầu tiên độc lập (02/09)
     Chuyện lạ miền biên viễn (29/08)
     Giáo sư Tạ Quang Bửu: Tận tâm, tận lực một đời (29/08)
     Trần Tử Bình - vị tướng mang hàm đại sứ (29/08)
     Một nhà báo người dân tộc thiểu số lần đầu tiên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp (27/08)
     Phút giải lao của Hồ Chủ tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (22/08)
 

 

TIÊU ĐIỂM
Đổi mới trên quê hương Trung tướng Phạm Kiệt
Trung tướng Phạm Kiệt – người con của quê hương núi Ấn, sông Trà từng được Bác Hồ và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tín nhiệm cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an vào những năm đầu thập niên 60. Ông sinh ra và lớn lên ở làng An Phú, nay thuộc thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.
Đổi mới trên quê hương Trung tướng Phạm Kiệt
Cuộc sống người lính trên các nhà giàn DK1
Những người lính Hải quân trên các nhà giàn bám trụ trên biển từ 8 đến 12 tháng. Cũng có khi do yêu cầu nhiệm vụ nên phải ở hơn 20 tháng mới vào đất liền. Sống giữa biển và trời với thời gian dài dằng dặc như thế đương nhiên là khó khăn, vất vả và thiếu thốn đủ bề, nhưng bằng tình yêu Tổ quốc và biển đảo, những người lính Hải quân đã vượt qua mọi trở ngại để sống một cuộc sống lạc quan, yêu đời và vững vàng bản lĩnh người chiến sỹ nơi đầu sóng ngọn gió.
>>Vượt sóng gió, chuyển quà Tết tới nhà giàn DK1
Cuộc sống người lính trên các nhà giàn DK1
Hai cha con ở Trường Sa
Thật tình cờ, trên chuyến tàu ra Trường Sa, tôi gặp chàng trai trẻ Nguyễn Thế Bôn, người ra làm nhiệm vụ ở đảo Nam Yết và người cha của anh. Mặc dù vừa thi đỗ Cao đẳng Giao thông Vận tải song chàng trai 18 tuổi ấy quyết định từ bỏ ước mơ học hành để theo chân cha làm người lính Trường Sa.
Hai cha con ở Trường Sa
Hầm sở chỉ huy tác chiến Bộ Tổng tham mưu đêm 18/12/1972
Đêm 18/12/1972, tại hầm sở chỉ huy tác chiến Bộ Tổng Tham mưu trong Thành cổ Hà Nội đã diễn ra cuộc đấu trí cam go giữa cơ quan tham mưu chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam với không lực Hoa Kỳ. Vào thời điểm đó, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng có mặt cùng các sĩ quan tham mưu tác chiến chỉ đạo các lực lượng phòng không mở màn trận quyết chiến chiến lược 12 ngày đêm để sau đó làm nên một Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội.
Hầm sở chỉ huy tác chiến Bộ Tổng tham mưu đêm 18/12/1972
Hai lần tác nghiệp trên đất Mỹ
Trong cuộc đời làm báo, tôi đã có 2 lần được tác nghiệp trên đất Mỹ. Những năm cuối thế kỷ XX, để đến được nước Mỹ là cuộc hành trình khó khăn vì phải đi đường vòng và thường phải mất 2 ngày 2 đêm. Còn bây giờ, việc đến nước Mỹ trở nên thuận lợi, nhưng cũng phải ngồi trên máy bay suýt soát 20 giờ đồng hồ. Hai lần đến Mỹ là 2 lần tôi được chứng kiến 2 sự kiện lịch sử khác nhau.
Hai lần tác nghiệp trên đất Mỹ
Kỳ I: Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, nhà khoa học dấn thân
Trở về quê sau 40 năm xa cách, người đàn ông đã ngoài sáu mươi tuổi, dáng người nhỏ nhắn và gầy gò, đứng lặng bên mộ mẹ cha mà nước mắt tuôn trào: “Con đã về đây, đã làm theo đúng lời nguyện ước của ba, má khi xưa, đã học hành thành đạt và đã cống hiến hết sức mình cho Tổ quốc!”. Đó là Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động, Bộ trưởng Trần Đại Nghĩa.
Kỳ I: Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, nhà khoa học dấn thân
Câu chuyện trở về từ “địa ngục trần gian”
Cầm giấy mời tham dự buổi gặp mặt đại biểu tù binh kháng chiến toàn quốc lần thứ 3, tôi háo hức chờ ngày lên đường. Háo hức không chỉ là được đến Huế - một địa danh có nhiều kỷ niệm với người tù kháng chiến mà còn gặp lại anh em sau 18 năm kể từ lần gặp mặt tại Lâm Đồng...
Câu chuyện trở về từ “địa ngục trần gian”
Ông đã chiến đấu vì một sự nghiệp rất vẻ vang
Khi nhà báo Wilfred Burchett qua đời (2-10-1983) ở Bulgaria - quê hương vợ ông - các đồng nghiệp và nhân dân Việt Nam vô cùng thương tiếc ông. Thép Mới đưa tiễn ông với bài báo xúc động mang tít "Người bạn chiến đấu của Việt Nam". Sau đó nhiều năm, một đồng nghiệp khác lại viết về ông, gọi ông là "người bạn tận tụy của Việt Nam"...
Ông đã chiến đấu vì một sự nghiệp rất vẻ vang
Chuyện về nữ trợ lý tin cậy của đồng chí I.Antrôpốp
Biết tôi có một bà mẹ đỡ đầu ở châu Âu, bạn bè tôi đều tin chắc đó là một bà mẹ Đức, vì tôi đã ở Đức ngót 20 năm và trong suốt thời gian ấy, nhất là khi còn ăn học ở trường thiếu nhi thuộc thị trấn Moritzburg của TP Dresden, tôi và các bạn học đã được nhiều bà mẹ Đức chăm sóc, dạy bảo, đó là các cô giáo, các cô chỉ đạo viên, các bà nấu bếp, dọn dẹp… Thế nhưng, người mà tôi có quan hệ tình cảm sâu sắc nhất lại là một bà mẹ gốc Phần Lan!
Chuyện về nữ trợ lý tin cậy của đồng chí I.Antrôpốp
Sự kiện Vũng Rô: Khúc bi tráng trong lịch sử Đoàn tàu không số
Những ngày này, khi lễ kỷ niệm cấp Nhà nước về đường Hồ Chí Minh trên biển chuẩn bị diễn ra, sự kiện Vũng Rô (Phú Yên) lại được nhắc đến như một khúc bi tráng của lịch sử Đoàn tàu không số trên biển Đông. Sau gần nửa thế kỷ trôi qua, trận chiến Vũng Rô vẫn không phai mờ trong tâm trí mọi người, bởi ý nghĩa lịch sử cũng như tinh thần anh dũng của quân ta trong một thế trận không cân sức, nhưng quân ta đã quyết chiến đấu và không để tàu lọt vào tay quân thù.
Sự kiện Vũng Rô: Khúc bi tráng trong lịch sử Đoàn tàu không số
Nữ anh hùng Kan Đơm và chuyện kể về “Đồi thịt băm”
Nhắc đến người con gái Pa Cô anh hùng trong đánh Mỹ ở đất rừng Đông Trường Sơn hẳn nhiều người sẽ nghĩ đến Kan Lịch. Song, vẫn còn một phụ nữ khác từng sử dụng súng trường bắn rơi máy bay giặc, đánh thắng hàng trăm trận, đó là Kan Đơm. Anh hùng Kan Đơm là một trong số nhân chứng sống biết về tội ác tày trời của giặc trên đồi A Bia, ngọn đồi được người Mỹ gọi là "Đồi thịt băm"...
Nữ anh hùng Kan Đơm và chuyện kể về “Đồi thịt băm”
Người thiếu niên xưa cùng mẹ Suốt chèo đò: Không chờ được tôn vinh
Dòng sông Nhật Lệ gắn liền với những chuyến đò ngang của mẹ Suốt anh hùng đã tạc vào thơ ca như một biểu tượng về lòng yêu nước bất diệt của dân tộc Việt Nam. Trên dòng sông ấy, năm xưa có một người thiếu niên dũng cảm đã đồng hành với mẹ Suốt và chiếc đò ngang huyền thoại cùng đội mưa bom bão đạn, rẽ sóng nước đưa bộ đội sang sông…
Người thiếu niên xưa cùng mẹ Suốt chèo đò: Không chờ được tôn vinh
Chăm sóc sức khỏe Anh Văn những ngày đầu chống Pháp
Trong những ngày mùa thu tháng tám năm nay, hòa chung với niềm vui của nhân dân cả nước chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi, bác sĩ Vũ Thị Minh Hằng, nguyên giảng viên Học viện Quân y - Bộ Quốc phòng, người trực tiếp đặc trách chăm sóc sức khỏe Đại tướng từ mùa thu năm 1947 đến cuối năm 1951, nhớ lại:
Chăm sóc sức khỏe Anh Văn những ngày đầu chống Pháp
Trở về sau 45 năm được công nhận liệt sỹ
Phủi bụi trên tấm bằng liệt sĩ ghi tên mình, bà bảo âu đó cũng là do sự nghiệt ngã của chiến tranh... Ngoài được Nhà nước công nhận là liệt sĩ ra, bà Nguyễn Thị Ngọc vẫn được khắc ghi trên tấm bia nghĩa trang liệt sĩ xã Tam Vinh, huyện Phú Ninh.
Trở về sau 45 năm được công nhận liệt sỹ
Đi tìm ẩn tích Hồ Chí Minh
Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học trường Thuộc địa là một "thông báo" về nước - Nguyễn Tất Thành con Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã có mặt tại nước Pháp "mẫu quốc của dân An Nam!". Cho nên, bỏ vào thùng thư tại Marseille đơn xin học trường Thuộc địa Paris, Nguyễn Tất Thành xuống tàu đi tiếp đến Havre.
Đi tìm ẩn tích Hồ Chí Minh
Dòng họ tiến sĩ bên bờ sông Lam
"Ngái ngôi chi mà anh nỏ về...", câu hát mang đậm âm hưởng dân ca đất Nghệ đưa tôi về làng Thượng Thọ, xã Thanh Văn, Thanh Chương, Nghệ An. Thắp nén nhang trên bàn thờ cố Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, lòng tôi chộn rộn niềm vui khi được đứng trước ngôi nhà thờ Nguyễn Tài, dòng họ "trâm anh" bên dòng Lam xanh.
Dòng họ tiến sĩ bên bờ sông Lam
Gặp nhân chứng thầm lặng trong thời khắc lịch sử
Chỉ vào bức ảnh tư liệu quý giá đã ngả màu theo thời gian, ông Trần Viết Cả đọc tên những người đồng đội cùng có mặt trong bức ảnh, ngoài Đại úy Phạm Xuân Thệ là các chiến sĩ Phùng Bá Đam, Trịnh Ngọc Ước. Chiến sĩ Trần Viết Cả gầy gò nhưng rắn rỏi, đứng bên trái bức hình, đầu đội chiếc mũ tai bèo trứ danh của Quân giải phóng.
Gặp nhân chứng thầm lặng trong thời khắc lịch sử
Anh hùng Nguyễn Tài và ký ức về ngày 30-4-1975
Đúng trưa ngày 30/4/1975, đồng chí Nguyễn Tài được bộ đội ta giải thoát. Sau cảnh lao tù, ông trở lại với công việc của mình với cương vị Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban An ninh thành phố vừa mới được giải phóng, rồi là Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Năm tháng qua đi, vượt lên những thăng trầm và vết thương thời hậu chiến ông đã được nhà nước ta phong tặng danh hiệu LLVTND...
Anh hùng Nguyễn Tài và ký ức về ngày 30-4-1975
Thời khắc đáng nhớ qua cuốn lịch sử về Nam Bộ
Nhân kỷ niệm ngày chiến thắng 30-4, Báo CAND xin trân trọng giới thiệu về diễn biến sự kiện Quân giải phóng miền Nam tiến vào Dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ nội các Sài Gòn và chấp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn Minh. Đây là tư liệu lịch sử đã được thẩm định trong cuốn "Lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1954 - 1975" do NXB Chính trị Quốc gia vừa ấn hành.
Thời khắc đáng nhớ qua cuốn lịch sử về Nam Bộ
Một ngày ở "Đệ nhất hùng quan"
Tôi xuôi QL1A qua Hải Vân quan một sáng se sắt lạnh, khi sương mù đặc quánh ôm lấy những ngọn đồi cao chót vót. Những số điện thoại đường dây nóng trên các vách đèo cheo leo được hai tỉnh Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng ghi để giúp người đi đường lúc gặp nạn cách đây vài năm giờ chỉ còn mờ nhạt, bởi không còn nữa những niềm lo âu khắc khoải trong đáy mắt của những người đi qua đoạn đường này...
Một ngày ở "Đệ nhất hùng quan"
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
©2007. Báo Công an nhân dân điện tử - CAND Online. All rights reserved.
Khi sử dụng lại thông tin từ website này, xin vui lòng ghi rõ nguồn "CAND Online".