Hiện vật nào được xem là bảo vật quốc gia ?
(08/09/2010)
|
|
Trống đồng An Khê có niên đại 2.500 năm. Ảnh: T.L
|
VH- Quy định về trình tự, thủ tục công nhận bảo vật quốc gia đang được cơ quan chức năng khẩn trương hoàn thiện và dự kiến sẽ ban hành trong năm nay. Nhưng cách hiểu về tiêu chí hay điều kiện như thế nào là bảo vật quốc gia cũng như một số vấn đề khác có liên quan đang gây nên những ý kiến còn khác nhau.
Cách đây vài ba năm, cơ quan chức năng có trách nhiệm đã gửi văn bản tới các tỉnh, thành phố và các bảo tàng... với nội dung nghiên cứu, lựa chọn hiện vật tiêu biểu để bộ, ngành có thẩm quyền trình Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia. Tuy nhiên, vào những năm đó do chưa có văn bản pháp lý quy định về trình tự, thủ tục công nhận bảo vật quốc gia nên việc này tạm thời gác lại. Và đến nay, Bộ VHTTDL đã dự thảo sang lần thứ 6 Thông tư Quy định trình tự, thủ tục công nhận bảo vật quốc gia.
Bảo vật quốc gia thì phải hội đủ những tiêu chí gì?
Trong kho tàng di vật, cổ vật nước ta hiện nay có thể nói có nhiều cổ vật được xem là bảo vật quốc gia, hay có người còn gọi báu vật quốc gia. Cũng nhiều năm trở lại đây, mặc dù chưa được cấp có thẩm quyền ra quyết định công nhận cổ vật nào là bảo vật quốc gia, song đây đó trên phương tiện thông tin đại chúng, và cả trong dân gian vẫn cứ gọi cổ vật này, kia là bảo vật quốc gia. Kể ra như vậy mới thấy rằng, trong nhận thức chung của người dân và kể cả trong một số nhà chuyên môn vẫn chưa có được quan niệm đầy đủ về tên gọi này, nhất là tiêu chí nhận diện chúng.
Tại Điều 2 của dự thảo này, Bộ VHTTDL cho biết, các hiện vật có đủ điều kiện sau đây thì được đề nghị công nhận bảo vật quốc gia: Là hiện vật nguyên bản, không phải là phiên bản ngày nay làm lại và là tiêu bản duy nhất thuộc một hoặc nhiều tiêu chí về hình dáng, kích thước, chất liệu, hoa văn trang trí, kỹ thuật chế tác, phương thức sử dụng, nội dung; Là hiện vật có hình thức độc đáo, đặc biệt, khác lạ so với những tiêu bản khác; Là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc là các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên; Là hiện vật đã được đăng ký theo quy định của pháp luật.
Trước đó, Nghị định số 92 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa cũng đã quy định tương đối cụ thể. Khoản 3, Điều 2 của Nghị định này cho biết, giá trị đặc biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia được thể hiện bằng các tiêu chí sau đây: Hiện vật nguyên gốc, độc bản; Hình thức độc đáo; Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện: Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất; Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng-nhân văn, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định... Và trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa cũng quy định: Bảo vật quốc gia phải có các tiêu chí sau đây: Là hiện vật gốc độc bản; Là hiện vật có hình thức độc đáo; Là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc là các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên...
Qua những văn bản đã ban hành cũng như văn bản đang trong quá trình hoàn chỉnh, nhiều ý kiến cho rằng, về cơ bản chúng ta đã đưa ra được những quy định tương đối toàn diện, đầy đủ và khoa học để tiến hành xem xét thế nào là bảo vật quốc gia, từ đó trình cấp có thẩm quyền công nhận. Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ thì cho thấy, một số chi tiết trong những văn bản nêu trên vẫn có chỗ chưa thật sự thống nhất với nhau, ít nhất là cách dùng từ, vì vậy cần có sự điều chỉnh nhằm tạo nên sự đồng thuận trong cách hiểu và trong quá trình thực hiện.
Những vấn đề đang đặt ra
Làm thế nào để các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là những người sưu tầm và sở hữu hàng trăm, hàng ngàn cổ vật có giá trị tự nguyện lập và gửi hồ sơ hiện vật đáp ứng đủ các điều kiện đến các cơ quan chức năng xem xét, trình cấp có thẩm quyền công nhận bảo vật quốc gia được xem là câu chuyện dài, không dễ giải quyết. Trong dự thảo lần này, Ban soạn thảo đã nêu lên một cách đầy đủ và cụ thể về trình tự, thủ tục công nhận bảo vật quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, một vấn đề quan trọng và cần được đặt ra là làm thế nào để các nhà sưu tầm, sở hữu hàng trăm, hàng ngàn hiện vật, cổ vật thực sự có giá trị, thậm chí có những hiện vật tiêu biểu, “có một không hai” tự nguyện lập hồ sơ gửi cơ quan chức năng. Qua đó giúp chúng ta “nhận diện và xác định hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học”.
Cho đến nay, trong những văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực di sản văn hóa chỉ mới quy định khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia chứ chưa có quy định bắt buộc. Nếu chỉ dừng lại ở chỗ khuyến khích thì rất khó để tạo nên “ý thức tự giác” của chủ sở hữu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia lập hồ sơ hiện vật của mình đáp ứng đủ điều kiện gửi cơ quan chức năng xem xét, trình cấp có thẩm quyền công nhận. Mà trong những trường hợp như thế thì mục đích đặt ra ban đầu trong việc đăng ký, công nhận bảo vật quốc gia xem ra chỉ mới đi được hai phần ba quãng đường. Trong khi đó, ai cũng biết rằng, hiện nay số lượng di vật, hiện vật, cổ vật và bảo vật quốc gia nằm trong nhân dân là rất lớn. Điều này đã được chứng minh thông qua nhiều cuộc triển lãm có sự tham gia của tổ chức nhà nước và những nhà sưu tầm cổ vật.
Với thực tế này, nhiều ý kiến đề nghị cần nghiên cứu và ban hành những văn bản mang tính pháp lý để có cơ chế, chính sách về quyền lợi, nghĩa vụ đối với những cá nhân đăng ký di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Làm được điều này sẽ giúp chúng ta quản lý tốt hơn về di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, đồng thời sẽ nhận diện một cách đầy đủ hơn về lịch sử, văn hóa, khoa học của đất nước thông qua loại hình di sản này.
Nguyễn Hòa
|