Đang tải.....
VnEconomy - “Thừa ngân hàng, nhưng thiếu sản phẩm!” - Tài chính
“Thừa ngân hàng, nhưng thiếu sản phẩm!”
 
  E-mail        Bản để in        Cỡ chữ       Chia sẻ:         
picture

"Nền kinh tế Việt Nam hiện không thiếu ngân hàng, mà chỉ đang thiếu trầm trọng những sản phẩm ngân hàng đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân" - Ảnh: Việt Tuấn.

▪  TS. NGUYỄN ĐẠI LAI
12:32 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

 

Nền kinh tế Việt Nam đang thừa ngân hàng nhưng sản phẩm thì èo uột, vậy trong lúc này có nên lập thêm ngân hàng?

Nền kinh tế Việt Nam đang thừa ngân hàng nhưng sản phẩm thì èo uột, vậy trong lúc này có nên lập thêm ngân hàng?

Với những bộ hồ sơ đã chấp thuận về mặt nguyên tắc nhưng vừa bị dừng cấp phép thành lập và hoạt động thì nên ứng xử như thế nào với chi phí vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra?

Đó là một số trong những vấn đề nổi cộm hiện nay của lĩnh vực ngân hàng mà người viết bài này mong muốn được đề cập tới.  

Việt Nam hiện không thiếu ngân hàng

Nên có thêm ngân hàng thương mại mới? Có nhiều người cùng hỏi tôi câu hỏi này và tôi đã trao đổi thẳng thắn: “Chưa nên có thêm ngân hàng mới vào thời điểm này, đặc biệt là cần ngăn cản việc các tập đoàn kinh tế công nghiệp đang có những động thái đua nhau tìm cách xin mở ngân hàng thương mại”.

Câu hỏi nói trên vào thời điểm cuối năm 2008 này càng có thêm cơ sở thực tiễn để củng cố câu trả lời từ một năm trước rằng: chưa nên có thêm ngân hàng thương mại mới, nhất là không nên có loại ngân hàng thương mại do tập đoàn chi phối.

Thậm chí, phải ghi vào luật việc nghiêm cấm các tập đoàn kinh tế công nghiệp hay thương mại thành lập và/hoặc có sở hữu chi phối ngân hàng thương mại, giống như nhiều nước trên thế giới đã phải làm như vậy.

Lý do đơn giản là: nền kinh tế Việt Nam hiện không thiếu ngân hàng, mà chỉ đang thiếu trầm trọng những sản phẩm ngân hàng đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân, nhất là những sản phẩm mà nhờ nó các ngân hàng thương mại có thể “chạy tiếp sức” được với thị trường vốn dài hạn trên thị trường chứng khoán.

Nền kinh tế Việt Nam cũng chỉ đang thiếu chất lượng dịch vụ, thiếu văn hóa phục vụ, thiếu con người có năng lực trong quản trị và điều hành hoạt động ngân hàng, thiếu các dịch vụ ngân hàng hiện đại…

Lúc này và mãi mãi về sau, cần phải xem xét kỹ các điều kiện cần và đủ để được cấp phép thành lập ngân hàng thương mại mới, sao cho thật sự minh bạch, thật sự chặt chẽ hơn vì cả xã hội luôn rất quan tâm đến vấn đề này.

Những ngân hàng đã được chấp thuận trên nguyên tắc, nếu họ không đáp ứng được những điều kiện cần và đủ mới thì đành phải chấp nhận bị loại. Vì được thành lập trên nguyên tắc không có nghĩa là những ngân hàng đó phải được thành lập và đi vào hoạt động chính thức.

Việc được chính thức thành lập hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào tình hình phát triển kinh tế, tầm nhìn vĩ mô, tình hình thị trường hàng hoá, dịch vụ, nguồn gốc vốn sở hữu, năng lực người điều hành, nguồn nhân lực, chất lượng nhân viên và bản thân thị trường tài chính mà trong đó có vấn đề nhu cầu dịch vụ và mật độ ngân hàng hiện hữu …

Tất nhiên, các ban trù bị, nhà sáng lập ngân hàng sẽ khó tránh khỏi những khó khăn trong quá trình chuẩn bị để chờ ngày khai trương. Vì trên thực tế, những ngân hàng được thành lập trên nguyên tắc cũng phải chuẩn bị công phu và khá đầy đủ về cơ sở vật chất và nhân sự thì mới có thể ra mắt.

Nhưng cũng may mắn là thời gian mà Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đồng ý trên nguyên tắc đến nay cũng chưa nhiều. Các ban trù bị này có thể chuyển hướng đầu tư sang hình thành mô hình định chế tài chính khác, như thành lập định chế tài chính phi ngân hàng.

Vốn không phải là quan trọng nhất

Để cho ra đời một ngân hàng thì có rất nhiều vấn đề phức tạp. Trong điều kiện hiện nay, vấn đề vốn điều lệ không phải là quan trọng nhất mà quan trọng nhất lại là vấn đề ai sở hữu chính và nguồn nhân lực chuyên nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ ở đẳng cấp cao này lấy từ đâu và nền kinh tế hiện có cần nhiều ngân hàng thương mại mới nữa hay không.

Một ngân hàng hoạt động được cần phải có một bộ máy quản trị đủ các tiêu chí về năng lực và lực lượng lao động chuyên ngành đông đảo. Những sinh viên mới ra trường không thể thành thạo ngay việc kinh doanh dịch vụ ngân hàng trong thời gian vài ba năm.

Hiện nay hầu hết các ngân hàng thương mại cũ đang thiếu người tài trong quản trị, thiếu người làm ngân hàng có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao. Một ngân hàng thương mại mới ra đời muốn có lực lượng đủ tiêu chí thì chỉ bằng cách “giành giật” chất xám cũng đang còn hiếm hoi từ các ngân hàng cũ mà thôi.

Trong thực tế, thời gian qua sau việc cấp phép thành lập mới cho một số ngân hàng đã thấy xuất hiện rất nhiều vấn đề, biểu hiện rõ nhất là tình trạng chảy máu chất xám về nhân lực của ngân hàng cũ sang ngân hàng mới. Khi những người này ra đi đã mang theo cả bí mật của ngân hàng cũ nơi mà họ đã làm.

Không biết xã hội có chấp nhận những ngân hàng mới hay không, nhưng việc ra đời ngân hàng mới khi chưa đủ điều kiện bền vững đã gây xáo trộn không chỉ hệ thống nhân sự trong toàn ngành ngân hàng mà đến lượt nó, còn gây xáo trộn cả hệ thống khách hàng và chiến lược kinh doanh của nhiều ngân hàng!

Tập đoàn chỉ nên tham gia định chế tài chính phi ngân hàng

Một loại tiêu chí khác rất cần phải xem xét thật kỹ là, hiện nay Việt Nam đã xuất hiện những nhóm tập đoàn công nghiệp góp vốn thành lập ngân hàng. Đây là điều mà nhiều nước trên thế giới không bao giờ cho phép.

Qua nghiên cứu, có thể thấy 10 tập đoàn kinh tế công nghiệp hàng đầu thế giới như: Microsoft, Ford, Volvo, Simens, Sony, Samsung… đều không được phép thành lập ngân hàng thương mại dưới bất cứ hình thức nào, mặc dù trong mỗi tập đoàn nói trên đều có rất nhiều định chế tài chính phi ngân hàng, được gọi là các “trung gian tài chính phi ngân hàng” làm công ty thành viên trong tập đoàn kinh tế công nghiệp (ví dụ: tập đoàn Volvo của Thụy Điển có tới 8 trung gian tài chính phi ngân hàng, tập đoàn Simens của Đức có 6, tập đoàn Sony của Nhật có 3 trung gian tài chính phi ngân hàng…).

Nếu tập đoàn công nghiệp được phép góp vốn thành lập ngân hàng thì sẽ rất dễ dàng dẫn đến tình trạng lấy vốn xã hội để hoạt động tín dụng “chỉ định” tập trung, và/hoặc cho vay chéo giữa các tập đoàn công nghiệp đồng sở hữu ngân hàng, làm cho rủi ro tín dụng tập trung luôn trong tình trạng nguy cơ cao. Nếu ngân hàng này sụp đổ sẽ dẫn đến hiện tượng domino trong hệ thống ngân hàng. Vì một ngân hàng dù hùng mạnh đến mấy, cũng vẫn là doanh nghiệp của công chúng với trên 90% tổng nguồn vốn là vốn của xã hội.

Vậy nên, cần phải kiểm soát chặt chẽ, không nên để cho các tập đoàn công nghiệp được tham gia góp vốn thành lập ngân hàng dưới bất cứ hình thức nào, mà chỉ cho phép họ được tự mình, và/hoặc góp vốn thành lập công ty tài chính phi ngân hàng.

Đang thiếu tiện ích và văn hóa dịch vụ

Theo tôi, ở thời điểm hiện nay, đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không nên cho phép thành lập mới các ngân hàng nữa.

Tuy chưa có một nghiên cứu đủ sâu nào để trả lời rành mạch được câu hỏi: đối với một nền kinh tế thị trường thì mật độ ngân hàng thương mại tính trên cư dân, hay trên đơn vị hành chính thì con số ngân hàng thương mại bao nhiêu là vừa đủ… song trên địa bàn cả nước tính đến tháng 8/2008, hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam đã có 5 ngân hàng thương mại nhà nước với tổng cộng trên 4.000 chi nhánh, 2 ngân hàng chính sách với hàng trăm chi nhánh, 5 ngân hàng liên doanh, 36 ngân hàng thương mại cổ phần, 44 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 quỹ tín dụng nhân dân Trung ương với hơn 30 chi nhánh trải hơn 25 tỉnh, thành phố và 998 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ở cấp phường, xã...

Với những con số này, các chi nhánh, phòng giao dịch và “điểm” dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng hiện hữu cũng đã thực sự “phủ sóng” đến tận các bản làng, thôn xóm. Tại Tp.HCM, với gần 500 phường mà đã có tới gần 1.000 điểm dịch vụ ngân hàng cố định, bình quân mỗi phường có tới 2 điểm dịch vụ ngân hàng. Thành phố Hà Nội cũng trong tình trạng “ra ngõ gặp ngân hàng”...

Bởi vậy, tôi cho rằng vấn đề cơ cấu lại nghiệp vụ, hiện đại và hợp lý hóa công nghệ, nhất thể hoá mạng thanh toán thành mạng thanh toán quốc gia, cân đối lại mạng lưới chi nhánh của các ngân hàng hiện hữu - thậm chí chưa bàn tới việc mở mới mà bàn luôn đến việc sáp nhập các ngân hàng nhỏ và xúc tiến nhanh việc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại Nhà nước, làm cơ sở để hình thành một vài tập đoàn tài chính mạnh - mới là “những việc cần làm ngay”.

Những việc này cấp bách hơn, cần thiết hơn và khả thi hơn nhiều so với việc cho phép ra đời ngân hàng mới.

Thực ra, câu trả lời về việc có mở mới ngân hàng thương mại vào giai đoạn này hay không đã có câu trả lời từ phía người dân và tổ chức kinh tế. Họ không kêu thiếu ngân hàng, mà chỉ kêu thiếu những tiện ích và văn hóa dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam.

Thậm chí, thực tế cho thấy gần đây đã xuất hiện trong một bộ phận công chúng việc hoài nghi về sự tồn tại hay không tồn tại của một số ngân hàng thương mại nhỏ, năng lực quản trị yếu và đội ngũ nhân viên vừa mỏng, vừa thiếu bản lĩnh nghề nghiệp!

Tình hình sẽ phức tạp hơn nhiều nếu lại cho ra đời thêm loại ngân hàng thương mại “của” tập đoàn kinh tế công nghiệp! Nếu xã hội có quá nhiều ngân hàng sẽ xuất hiện tình trạng “tranh cướp” người và cạnh tranh thị phần của nhau. “Miếng bánh” thị phần vừa bị cắt vụn, vừa phải nuôi một tổng số các “cỗ máy” ngân hàng nhiều hơn sẽ dễ dẫn đến tình trạng hỗn loạn khó kiểm soát được rủi ro.

Thật sự, việc có thêm nhiều ngân hàng không giúp xã hội tăng thêm nguồn vốn, vì bản thân ngân hàng không “đẻ” ra vốn và “giá trị thặng dư” cho nền kinh tế, mặc dù nếu thiếu ngân hàng thực sự thì sẽ tạo sức ỳ và gây khó khăn cho quá trình vận động của nền kinh tế thị trường.

* Tác giả bài viết là Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước). Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

 
Thảo luận (26 ý kiến)
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết)
 
Vĩnh
10:23 (GMT+7) - Thứ Ba, 12/5/2009

Tôi tán thành với ý kiến của tác giả, nhưng về việc cải thiện nguồn nhân lực hiện nay tôi nghĩ các ngân hàng cần liên kết chặt với các trường đại học để tạo ra nguồn nhân lực có thể phần nào đáp ứng được nhu cầu của công việc.

Hiện phần lớn các ngân hàng ít làm việc này nên các sinh viên mới ra trường không đáp ứng được nhu cầu của công việc, đó là ý kiến của riêng tôi.
Diepvo
19:50 (GMT+7) - Thứ Sáu, 14/11/2008

Trong tình hình nền kinh tế Việt Nam mở cửa hội nhập, việc phát triển của các ngân hàng là cực kỳ quan trọng, nó là "bộ mặt" tình hình "sức khỏe" đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Để làm cho bộ mặt "đẹp" và sức khỏe "tốt" thì đòi hỏi các ngân hàng cần phải nổ lực hơn nữa và phải có những chính sách nhạy bén hơn trong việc xử lý các nghiệp vụ và phát triển, tìm tòi ra những sản phẩm mới.

Điều đó may ra mới giúp các ngân hàng (sức khỏe của nên kinh tế Việt Nam) có thể đứng vững trước cơn "cuồng phong" của nền kinh tế toàn cầu. Việc gia nhập WTO của Việt Nam chưa nhìn thấy những điểm tích cực nhiều nhưng lại xuất hiện bất lợi.

Nhất là ngành ngân hàng của chúng ta, liệu nó có thể đứng vững được trước cuộc chạy đua "không cân sức" này không?

Theo tôi để ngành ngân hàng có thể đứng vững và đương đầu được với sự đầu tư ồ ạt mở các chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài như tình hình hiện nay thì "sức khỏe" của các ngân hàng Việt Nam e rằng khó có "thuốc chữa" để phục hồi? Chỉ có một cách duy nhất mà chúng ta có thể đương đầu và thắng họ là "con người" => cần phải có những sản phẩm, công nghệ ngân hàng mới may ra mới đương đầu được với "cơn cuồng phong" này.

Do đó vấn đề phát triển con người là vấn đề sống còn của sự tồn tại của các ngân hàng. Hơn nữa Việt Nam mới chỉ gia nhập nền kinh tế thế giới, chưa có nhiều mối quan hệ với Mỹ, nhưng mà việc ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ đã giáng xuống nền kinh tế Việt Nam. Liệu việc phụ thuộc sẽ như thế nào khi Việt Nam hoàn toàn gia nhập đồng bộ vào nền kinh tế thế giới?

Việc thành lập các ngân hàng hiên nay thì vấn đề vốn tự có không đủ điều kiện để lập ngân hàng. Cần phải có nhiều ràng buộc hơn khi thành lập một ngân hàng mới. Sự phát triển của một ngân hàng là nó có ảnh hưởng đồng bộ đến "sức khỏe" của tất cả các ngân hàng nói riêng và nền kinh tê Việt Nam nói chung.
Nguyễn Thanh
21:32 (GMT+7) - Thứ Tư, 3/9/2008

Về cơ bản tôi đồng ý với ý kiến của tác giả nêu trong bài viết.

Tôi cũng đồng ý với một số ý kiến của bạn đọc cho rằng Ngân hàng Nhà nước phải thể hiện được vai trò giám sát, tạo ra sự ổn định, tăng trưởng tích cực của hệ thống ngân hàng thông qua việc đưa ra những tiêu chuẩn cao hơn đối với việc thành lập ngân hàng (về chất lượng đội ngũ nhân lực, bộ máy quản trị, chất lượng dịch vụ...).

Nếu có được một hệ thống các tiêu chuẩn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam, trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng.. thì cũng không cần "cấm" thành lập ngân hàng mới nữa, khi đó chúng ta vẫn đảm bảo sự cạnh tranh trong thị trường tài chính, tiền tệ với sự xuất hiện của các ngân hàng thương mại có chất lượng, có nhiều loại hình dịch vụ phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp, cá nhân.

Điểm mấu chốt là Ngân hàng Nhà nước phải thực sự am hiểu thị trường, phản ứng linh hoạt, hiệu quả với những biến động của thị trường, có như vậy mới tạo lập được thị trường tiền tệ, tài chính đúng nghĩa, hỗ trợ cho sản xuất, tránh được việc lạm dụng những biện pháp hành chính gây những tác động sốc như trong thời gian vừa qua.
Nguyễn Thanh Hải
22:18 (GMT+7) - Thứ Hai, 1/9/2008

Như vậy, vẫn có người không đồng tình với chủ trương dừng không cấp phép cho thành lập ngân hàng mới. Bỏ qua những động cơ chủ quan, thì ít nhất ở đây chúng ta cần phải nhận thấy rằng:

Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp hết sức đặc biệt. Trong khi sự ra đời và sụp đổ của một doanh nghiệp thông thường khác là hết sức bình thường trong nền kinh tế thị trường, sự đổ vỡ cũng không đến mức gây ra những hậu quả hệ lụy có tính chất dây chuyền, thì với một ngân hàng lại khác hẳn.

Và chỉ cần một sự thiếu an toàn trong hoạt động có thể gây ra hậu quả khôn lường không chỉ cho bản thân ngân hàng đó, mà còn cho cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Cho nên việc kiểm soát, siết chặt đối với việc thành lập mới ngân hàng là việc làm có tính chất sống còn của nền kinh tế. Để minh chứng thì chỉ cần chịu khó quan tâm một chút là thấy rõ.

Như các ý kiến xác đáng của tác giả và một số bạn, cũng như thực tế cho thấy các ngân hàng mới thành lập (chuyển đổi từ các ngân hàng nông thôn) trong 2 năm gần đây hầu như không tạo ra được các kênh sản phẩm dịch vụ có tính đột phá, tiến bộ hay ít nhất có sự khác bịêt nào đó so với các ngân hàng cũ, không lựa chọn được cho mình các phân đoạn thị trường mục tiêu rõ ràng, song trên thực tế thì luôn luôn bị báo động với việc chấp hành quy định về dự trữ bắt buộc, các chỉ số hoạt động, khả năng thanh khoản.

Đáng buồn hơn cả là họ không những không góp phần vào việc thực hiện tốt các chính sách, chiến lược phát triển của đất nước, mà còn là một trong các tác nhân gây ra lạm phát.

Một điều đáng nói nữa là với việc hầu hết các ngân hàng mới (chuyển đổi) ra đời đều có sự bỏ vốn ở mức khống chế của một tập đoàn kinh tế Nhà nước, thì sự bỏ lĩnh vực chính, quay ra đầu tư tay trái của các tập đoàn đã và đang là bài toán khó, đòi hỏi phải nhanh chóng xem xét, đánh giá lại.

Tóm lại, không thể biện minh cho việc cho ra đời ngân hàng mới trong giai đoạn hiện nay!
Trịnh Anh Pháp
16:10 (GMT+7) - Thứ Hai, 1/9/2008

Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với ý kiến của tác giả là không nên cho thành lập thêm ngân hàng mới vào thời điểm này bởi vì khi mà có quá nhiều ngân hàng sẽ kéo theo sự cạnh tranh khốc liệt cả về nguồn lực nhân viên và khách hàng.

Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng các ngân hàng sẽ không có được đội ngũ nhân viên tốt thì các nghiệp vụ sẽ không được tốt. Có quá nhiều ngân hàng sẽ dẫn đến các dịch vụ và sản phẩm sẽ không tốt và sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới sự phát triển của nền kinh tế nước ta.

Xin cảm ơn.
Nguyễn Thị Duy
19:22 (GMT+7) - Chủ Nhật, 31/8/2008

Bài viết của tác giả rất thẳng thắn và xúc tích khi đưa ra quan điểm của chính mình nhưng theo tôi nghĩ việc gì cũng có hai mặt của nó - tích cực và tiêu cực.

Trong bài viết tác giả chỉ đưa ra những mặt tiêu cực khi thành lập ngân hàng, tại sao chúng ta không nghĩ rằng để đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì bản thân các ngân hàng mới thành lập họ sẽ tự hoàn thiện mình vì nếu không họ sẽ tự động bị xã hội đào thải.

Tôi nghĩ "sóng sau bao giờ cũng cao hơn sóng trước". Tôi đồng ý là hiện các dịch vụ tiện ích ngân hàng còn yếu kém so với các nước trên thế giới nhưng các bạn có nghĩ đó là do tập quán thói quen không thích tiếp cận công nghệ thông tin của người Việt Nam.

Thêm ngân hàng mới rất có thể sẽ tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng và từ đó mang lại những sản phẩm đa dạng và đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh công bằng.
Thanh
10:09 (GMT+7) - Thứ Sáu, 29/8/2008

Bài viết đã thể hiện được quan điểm của tác giả, nhưng tính thực tiễn của nó liệu đã được đo lường?

Nếu nói rằng quá nhiều ngân hàng liệu đã đúng, rất nhiều vùng trên đất nước ta mà hệ thống ngân hàng chưa phủ sóng đến được, điều này gây nên tình trạng khan hiếm, ách tắc, cửa quyền trong hệ thống ngân hàng tại các địa bàn này.

Nếu nói bản thân "ngân hàng không “đẻ” ra vốn và “giá trị thặng dư” cho nền kinh tế" là chưa đúng, ngân hàng không trực tiếp đẻ ra vốn nhưng nó đóng một vai trò quan trọng vào việc tạo ra giá thị thặng dư cho nền kinh tế.

Hiện nay, nếu nói số lượng ngân hàng quá nhiều là chưa xác đáng, mà vấn đề ở đây là chất lượng dịch vụ và mạng lưới hoạt động chưa rộng và chất lưọng chưa sâu.
Đào Huy Tùng
09:18 (GMT+7) - Thứ Sáu, 29/8/2008

Tôi đồng ý với ý kiến cho rằng: "Không cho phép các tập đoàn góp vốn thành lập ngân hàng vì nếu như vậy sẽ làm cho rủi ro tín dụng tập trung luôn trong tình trạng nguy cơ cao".

Tuy nhiên, tôi không đồng ý với ý kiến không cho phép thành lập thêm ngân hàng. Trong cơ chế thị trường, việc "không cho phép" sẽ làm giảm tính cạnh tranh. Một số ngân hàng lớn hiện tại do đó sẽ càng có cơ hội để khẳng định vị thế "chiếu trên" của mình. Khách hàng sẽ vẫn luôn ở trong tình trạng chiếu dưới do không thể tìm được ngân hàng lớn mạnh mà dịch vụ tốt mà chỉ ở nước ngoài mới có.

Trân trọng!
Đình Hội
10:40 (GMT+7) - Thứ Tư, 27/8/2008

Tôi cảm phục bài viết của tác giả vì đã mạnh dạn nói thẳng quan điểm của mình không nên cho các tập đoàn kinh tế công nghiệp mở ngân hàng.

Tôi cho rằng đây là vấn đề vô cùng quan trọng không chỉ đối với riêng lĩnh vực ngành ngân hàng và các tập đoàn công nghiệp nói riêng mà đối với cả nền kinh tế và sự đi lên của đất nước.

Vì vậy tôi hy vọng các ngành, các nhà nghiên cứu nói chung ở các lĩnh vực khác nhau sẽ tiếp tục có những nghiên cứu tâm huyết để có thêm những ý kiến hay hơn, lý giải cụ thể hơn.

Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này: Đến nay hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế của ta còn thua kém rất nhiều so với nhiều nước trên thế giới. Ta chưa sản xuất được ôtô, xe máy của riêng ta, ta chưa làm đủ điện cho nhu cầu xã hội, các sản phẩm về dầu của ta chưa có mặc dù đã khai thác được dầu từ hàng chục năm nay v.v...,

Ngân hàng của ta còn thiếu và yếu về công nghệ, yếu về quản trị điều hành, trình độ cán bộ, nghiệp vụ còn yếu và thiếu. Bản thân công việc chính của mình làm còn chưa tốt thì làm sao có thể cùng một lúc làm tốt thêm các việc khác.

Do đó, theo tôi các tập đoàn kinh tế của ta chỉ nên tập trung đầu tư vào lĩnh vực hoạt động của ngành mình để nó thực sự phát triển về chất, về trình độ công nghệ, về qui mô sản xuất, đủ sức cạnh tranh với các đối tác nước ngoài trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, để đóng góp đưa đất nước phát triển đi lên như nhiều tập đoàn kinh tế lớn khác trên thế giới.
Bích Thuận
08:15 (GMT+7) - Thứ Tư, 27/8/2008

Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của tác giả bài viết.

Hiện nay, ở Hà Nội, đúng là có tình trạng "ra ngõ gặp ngân hàng". Nhiều ngân hàng đua nhau tăng lãi suất tiền gửi để huy động vốn, điều này rõ ràng mang lại những hệ quả xấu. Hơn nữa, ngân hàng mới ra đời nhưng sản phẩm mới thì chẳng có, người ta vẫn nhầm "sản phẩm ngân hàng" với cái cách mà các ngân hàng sử dụng để huy động vốn hiện nay chỉ quanh quẩn ở chỗ tăng lãi suất, khuyến mại hấp dẫn...

Theo tôi, không nên cấp phép thành lập thêm ngân hàng nữa mà hãy tập trung quản lý các ngân hàng hiện có, đa dạng hoá sản phẩm. Hệ thống ngân hàng của chúng ta hiện nay mới chỉ có những sản phẩm của các ngân hàng châu Âu mấy chục năm trước .

Nhân đây, tôi cũng có thêm ý kiến về việc một bạn ở trên đã đề cập, đó là việc trả lương bằng thẻ.

Hệ thống thanh toán điện tử, thậm chí cả bốt rút tìên ATM ở những thành phố như Hải Phòng, Hải Dương cũng còn có rất ít, thử hỏi thanh toán lương bằng thẻ liệu có phải khả thi ở các địa phương?
Mai
09:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/8/2008

Với những quan điểm khá hay của tác giả, tôi thiết nghĩ bản thân tác giả cũng nên có ý kiến với lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước sớm hơn, nhằm giảm thiểu sự hao tốn nhân lực vật lực cho việc chuẩn bị ra đời của các ngân hàng được chấp thuận nguyên tắc và hậu quả không biết xử lý như thế nào về thiệt hại nếu không được ra đời. Theo tôi được biết, các vụ tại Ngân hàng Nhà nước đều nằm trong hội đồng thẩm định cấp phép thành lập ngân hàng mới.

Các tiêu chí mới của Nghị định 24 về việc cấp phép thành lập ngân hàng cũng đã là khá chặt chẽ về vốn, khả năng quản trị điều hành, công nghệ... Nếu họ có đủ điều kiện thì phải cho thành lập và có như thế mới nâng cao tính cạnh tranh. Bản thân các ngân hàng nhỏ không đủ sức thì sẽ tự sát nhập, bán lại cho ngân hàng khác. Ngân hàng Nhà nước phải đưa ra các chỉ tiêu giám sát để cảnh báo các ngân hàng không đạt tiêu chuẩn và hướng xử lý.

Việc ra đời các phòng giao dịch, chi nhánh cấp 2 quá nhiều và vội vã cũng làm cho hệ thống ngân hàng mất khả năng kiểm soát, nên chăng trong giai đoạn này các ngân hàng cần đầu tư vào cũng cố chất lượng, đội ngủ và tăng cường khả năng kiểm soát để có một hệ thống vững mạnh.
Nguyễn Thanh Hải
09:08 (GMT+7) - Thứ Ba, 26/8/2008

Tôi ủng hộ quan điểm của tác giả.

Cái mà các bạn đang gọi là sản phẩm nhiều và đa dạng hiện nay thực tế chưa thể gọi là sản phẩm mà chỉ là những biến tấu chút ít trong cách huy động, cách tính lãi hay giải ngân mà chưa thực sự có những thay đổi đột phá và thể hiện rõ các lợi thế của sản phẩm như thế nào, kết quả là gần như ngay lập tức bị các ngân hàng khác dễ dàng rập khuôn bắt chước.

Tại sao không đưa ra những cái mới, ví dụ có thể đưa các hoạt động ngân hàng ảo, hỗ trợ quản lý đầu tư, luân chuyển vốn... tới tận nơi khách hàng sinh sống và làm việc? nhưng cuối cùng cũng chỉ là tra số dư, thanh toán chuyển khoản liên chi nhánh hay cùng lắm là có thêm một số form yêu cầu mở thẻ, mở L/C...như những cổng điển tử phương tây đã dùng hàng chục năm trước.

Đúng là không nên dùng từ "cấm" hay "không cho phép", mà phải tạo ra những rào chắn quản lý, những hành lang pháp lý đúng đắn, đủ mạnh để đảm bảo sự vững vàng hiệu quả cho công tác quản lí, giám sát của nhà nước.

Nhưng không phủ nhận một thực tế là chúng ta còn đang loay hoay chưa tìm ra được cách thức quản lí tốt nhất, thậm chí lỏng lẻo, có khả năng bị lợi dụng, luồn lách, thì tốt nhất là cứ cấm đã.

Cũng giống như khi con đường bị sạt lở, chưa kịp khắc phục thì trước tiên phải chặn người qua lại, rồi mới khắc phục sự cố, khi nào xong thì tháo chốt chặn.

Chân lý ấy chẳng có gì là sai cả.
N.N.Tài
21:33 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/8/2008

Theo tôi thì quan điểm của tác giả hợp lý nếu đứng trên quan điểm nhà quản lý theo tư duy của nền kinh tế chỉ huy, nhưng lại không hợp lý đứng trên phương diện kinh tế thị trường.

Chúng ta đã hội nhập khá sâu vào nền kinh tế thế giới. Muốn các chủ thể kinh tế có thể tồn tại và đứng vững thì phải tạo niềm tin thông qua quản lý bằng công cụ có tính thị trwờng, càng ít "không cho phép" càng tốt.
Trần Minh
00:44 (GMT+7) - Thứ Hai, 25/8/2008

Tôi không đồng ý với tiêu đề của bài viết "Thừa ngân hàng, thiếu sản phẩm", tiêu đề này theo tôi không đúng.

Sản phẩm của các ngân hàng luôn được đa dạng hoá để phục vụ nhiều đối tượng hơn nữa, như vậy mới huy động được vốn, và cho vay được nhiều hơn. Có như vậy ngân hàng mới có thể tồn tại được. Không ai bảo ai, các ngân hàng đua nhau tạo ra các sản phẩm mới

Ví dụ như ở Techcombank có những sản phẩm: thanh toán tiền mua vé hộ cho Jetstar mà ko cần phải (Credit hay Visa), thanh toán tiền cho thuê bao điện thoại cho Viettel, Vina, chuyển khoản qua Internet. Hiện giờ đang mở thí điểm máy gửi tiền tự động...

Ngoài những sản phẩm đó còn sản phẩm cho vay dành cho hộ gia đình, gia đình trẻ, kinh doanh vừa và nhỏ, thấu chi, Internetbanking dành cho doanh nghiệp...

Thử hỏi sản phẩm có đa dạng và dành cho nhiều tất cả các đối tượng không? Nhưng vấn đề ở đây là sản phẩm đó chất lượng như thế nào?
Lê Khánh
13:15 (GMT+7) - Thứ Bảy, 23/8/2008

Bài viết của tác giả rất hay. Tác giả đã nêu được sự bất cập của các tập đoàn kinh tế Việt Nam tham gia thành lập ngân hàng, đồng thời chỉ rõ hướng đi của các tập đoàn kinh tế nếu có tham gia chỉ là trung gian tài chính phi ngân hàng.

Tuy nhiên, tác giả cho rằng việc thành lập ngân hàng mới trong giai đoạn này là nên cân nhắc có lẽ chưa hợp lý.

1. Việc các ngân hàng thương mại chưa có các dịch vụ tốt cũng như người tiêu dùng chưa sủ dụng hết các dịch vụ là một tồn tại từ chế độ bao cấp. Các ngân hàng thương mại thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước được có nhiều lợi thế, nhưng thái độ và chất lượng phục vụ không bằng khối ngân hàng thương mại tư nhân.

Nếu chúng ta không cho phép thành lập thêm ngân hàng, sẽ dẫn đến hiện tượng khối ngân hàng thương mại Nhà nước tiềm lực mạnh nhưng chất lượng kém thì tồn tại và khối ngân hàng thương mại tư nhân phục vụ tốt nhưng yếu về tiềm lực sẽ đuối sức dần.

Theo tôi cần cho phép thành lập thêm ngân hàng với tiêu chuẩn cao hơn cả về vốn lẫn chất lượng phục vụ. Đồng thời Nhà nước tiếp tục hỗ trợ các ngân hàng thương mại tư nhân (ACB, VP bank, AB bank .v.v.) cả phần vốn, nhân lực (cho đào tạo ở nước ngoài) để phát triển. Đây chính là động lực cạnh tranh lành mạnh để phát triển kinh tế đất nước.

2. Chỉ có các ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được hoạt động tại Việt nam sẽ đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khối doanh nghiệp Nhà nước bởi vì hiện nay khối ngân hàng thương mại Nhà nước tiềm lực mạnh, lợi thế chiếm lĩnh thị trước nhiều năm nhưng vẫn kêu lãi suất đầu vào thấp và kêu lỗ.

Thực tế họ rất mạnh về tiềm lực vốn và có đủ khả năng kéo mặt bằng lãi suất đầu vào thấp hơn. Nhưng vì sân chơi này các ngân hàng thương mại Nhà nước là người cầm chịch nên họ thường chỉ hạ lãi suất thấp không đáng kể so với các ngân hàng thương mại tư nhân.

Để đảm bảo tăng nguồn cung về vốn lẫn chất lượng dịch vụ, đồng thời tạo đà tăng trưởng kinh tế bền vững chỉ có cách duy nhất để vài ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (Lợi thế của ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài là chi phí vốn rẻ, kỹ trị tôt, dịch vụ tốt).
Nguyễn Diễn
11:53 (GMT+7) - Thứ Bảy, 23/8/2008

Tôi đồng ý với ý kiến ông Vụ phó về vấn đề không nên mở thêm các ngân hàng thương mại bởi hiện nay chúng ta đã có nhiều các tổ chức tài chính, bên cạnh đó còn tồn tại nhiều ngân hàng chất lượng dịch vụ còn thấp.

Thành lập thêm ngân hàng theo thế thì sớm muộn cũng dẫn đến các hiện tượng sát nhập vì thiếu chât lượng về dịch vụ và chất lượng quản trị.

Vì thế, Ngân hàng Nhà nước phải hoàn thiện việc soạn thảo các tiêu chuẩn chung cho các ngân hàng (các chất lượng dịch vụ, bộ máy quản trị, đội ngũ lao động...) thật rõ ràng để bất cứ ngân hàng nào mới được thành lập đều phải cam kết thực hiện các tiêu chuẩn trên, phải được Ngân hàng Nhà nước thẩm định, đánh giá kỹ càng trước khi cấp phép. Những hoạt động này hết sức cần thiết vì hoạt động của các ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, đời sống dân cư của một nước.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng phải tiến hành ra soát các ngân hàng hiện tại để đánh giá chất lượng, hiệu quả để có thể đưa ra các định hướng đối với các ngân hàng hoạt động yếu kém. Các quy luật của thị trường vẫn phải cần sự can thiệp, quản lý của nhà nước để giảm thiểu các rủi ro, thiệt hại cho xã hội, đó cũng là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước.
Nguyễn Kim Việt
09:46 (GMT+7) - Thứ Bảy, 23/8/2008

Tôi rất tán đồng với quan điểm của tác giả về việc thừa ngân hàng thiếu sản phẩm.

Hiện nay các ngân hàng có nguồn thu chủ yếu từ hoạt động tín dụng, việc đầu tư vào các sản phẩm khác dẫn tới việc đầu tư vào công nghệ, nhân lực tốn kém trong khi đó hiệu quả mang lại không cao, thời gian thu hồi vốn chậm. Vì vậy các ngân hàng chưa chú trọng đến phát triển dịch vụ.

Về việc mở ngân hàng, tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của tác giả. Theo tôi được biết lý do các tập đoàn không được mở ngân hàng là cũng vì các tập đoàn sẽ sử dụng vốn xã hội cho vay chồng chéo. Đây là bài học kinh nghiệm của thế giới. Đa số sự khủng hoảng của ngành ngân hàng dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế.
Kiến Trúc
23:22 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Bài viết hay và sát với thực tế về hoạt động ngân hàng hiện nay.

Ngoài ra bản thân tôi xin đóng ý kiến là sự phát triển ngân hàng còn phụ thuộc vào một yếu tố nữa là ý thức, văn hóa và khả năng về sử dụng chính những sản phẩm của ngân hàng cung cấp.

Thói quen người Việt Nam là thích sử dụng các dịch vụ miễn phí và hay chê bai hơn là đóng góp ý kiến. Hiện nay đa số các giao dịch mua bán đều không có sự tham gia của ngân hàng, vì sợ tốn phí nên không ai muốn tham gia hoặc chỉ tham gia vì một lý do bất khả kháng nào đó mà không nghĩ đến độ tiện lợi và an toàn mà sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp.

Bên cạnh đó trình độ hiểu biết về công nghệ của dân ta không cao, lâu nay một số ngân hàng đã triển khai các sản phẩm dựa trên nền tảng công nghệ thông tin nhưng mấy ai sử dụng đâu.

Vừa rồi, Chính phủ yêu cầu thanh toán lương qua tài khoản thì người dân mới chút ít quan tâm đến việc trả lương qua thẻ nhưng đa số chỉ sử dụng chức năng rút tiền, trong khi các tiện ích khác như thanh toán tiền điện, điện thoại, mua thẻ cào điện thoại trả trước... không mấy ai sử dụng.

Đối với hoạt động đi vay của dân ta cũng nhiều vấn đề phức tạp không kém, bao giờ cũng xem các thủ tục vay ngân hàng là phức tạp, chỉ muốn thế chấp tài sản là nhận ngay tiền (!) (cái gì cũng muốn có ngay) và thích giao dịch thông qua cò tín dụng, đó là cơ sở để phát sinh các tiêu cực.

Vì vậy việc tuyên truyền phổ biến để người dân quan tâm hơn đến việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng là vô cùng quan trọng, dù các sản phẩm có phong phú bao nhiêu mà người dân không ý thức quan tâm thì các ngân hàng có nỗ lực giới thiệu bán sản phẩm cũng không có hiệu quả.
Ngô Sỹ Nam
22:44 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Bản thân tôi rất đồng tình với ý kiến tác giả.

Hiện là sinh viên ngành tài chính ngân hàng, tôi cũng muốn nói thêm, hiện nay Việt Nam đang rất thiếu nguồn nhân lực ngành ngân hàng chất lượng, nhưng thực tế hiện nay các trường đại học lại ra sức đào tạo theo phong trào, ngay trường đại học nông lâm cũng đào tạo tài chính ngân hàng!

Có lẽ xu thế này là do sự mở rộng ồ ạt các chi nhánh và việc đua nhau thành lập các ngân hàng. Nhiều người hiện nay vẫn nghĩ lao vào học lĩnh vực ngân hàng để ra có lương cao, nhưng liệu với tình hình các ngân hàng hiện nay, liệu khi tôi ra trường thì sao?
Tri Cuong
18:34 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Bài viết có nội dung sát tâm lý thị trường, phân tích luận giải những ý tứ đầy đủ. Nhưng theo tôi, tác giả chưa đi sát với tiêu đề “Thừa ngân hàng, nhưng thiếu sản phẩm!”.

Tôi thấy tác giả quá đi sâu vào phân tích không nên thành lập ngân hàng mới và đặc biệt không cho phép các tổng công ty thành lập ngân hàng. Chưa đi sâu lý giải thừa ngân hàng như thế nào? Thừa ở đâu và thiếu ở đâu?

Theo tôi, cái thừa ngân hàng ở Việt Nam là quá tập trung vào các thành phố lớn, một tuyến đường ở Tp.HCM có đầy đủ các ngân hàng, đến nổi người ta gọi là "phố ngân hàng", trên một tuyến đường không dài mà một ngân hàng có thể có 2 chi nhánh (phòng giao dịch), rùi các chi nhánh của một ngân hàng cách nhau không xa.

Đó mới là cái thừa lớn nhất.

Nhưng vẫn thiếu, thiếu ở các địa bàn vùng sâu vùng xa, mà cả các vùng ven thành phố lớn. Ví dụ, Ngân hàng Á Châu (ACB) đến nay có khoảng 150 địa điểm trên toàn quốc, trong khi đó Tp.HCM có tới hơn 90 điểm giao dịch, nước ta có tới 64 tình thành, ACB chỉ mới phủ 22 tình thành. Nhưng "đất lành thì chim đâu" cái quyền mở điểm giao dịch thuộc quyết định nhà quản trị của mổi ngân hàng.

Nên phân tích tính hai mặt của một vấn đề. Còn về mặt sản phẩm thì tác giả chưa có đánh giá.

Theo tôi, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét lại khía cạnh trên, có nên cho các ngân hàng thương mại quá tập trung vào các thành phố lớn mà bỏ quên phần còn lại. Mạng lưới càng rộng thì khả năng phát triển sản phẩm càng nhiều.

Đây là những nhận xét riêng tư, nên có gì không đúng mong tác giả thông cảm.
Đặng Văn Kiên
18:02 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Bài viết rất hay, lập luận và phân tích chặt chẽ. Đây là quan điểm riêng của tác giả, nhưng tôi mong rằng Ngân hàng Nhà nước cũng có quan điểm như vậy.
VTV Anh
17:09 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Không phải tất cả mọi ý kiến của tác giả đều đúng!

Việc các ngân hàng nhỏ làm ăn kém thì cứ để quy luật thị trường điều chỉnh thông qua việc họ phải sáp nhập với nhau hoặc bị các ngân hàng lớn hơn thôn tính trong khuôn khổ của luật pháp!

Không thể cứ thấy tại Hà Nội và Tp.HCM nhiều phòng giao dịch ngân hàng là cho rằng nhiều, nếu vậy nhìn sang Singapore, Hongkong thì sao nhỉ?

Rồi còn các ngân hàng ngoại thì sao? Đã cam kết khi vào WTO thì vẫn phải theo lộ trình!

Trân trọng!
Chuyenvien
16:17 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Tôi hoàn toàn đồng tình và ủng hộ ý kiến của tác giả:

Thứ nhất: ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh đặc thù đòi hỏi nhiều yếu tố trong đó nguồn nhân lực là quan trọng nhất.

Với các ngân hàng mới thành lập không những yếu về quy mô nguồn vốn, mạng lưới, sản phẩm dịch vụ mà vấn đề quan trọng không có đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm và am hiểu lĩnh vực ngân hàng vì đa phần đây đều là các ngân hàng được thành lập dựa trên sự góp vốn của một số tập đoàn kinh tế hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực ngân hàng như: điện, than khoáng sản, dầu khí, dệt may...

Thứ hai: về bản chất, nguồn vốn của các tập đoàn trên đều là nguồn vốn của Nhà nước, với chính sách tiền tề thắt chặt, Nhà nước muốn kiểm soát dòng tiền bằng việc thu hồi tiền để điều tiết một cách hợp lý hơn.

Thứ ba: hệ thống ngân hàng là một trong những công cụ điều tiết nền kinh tế, với tình hình lạm phát cao như hiện nay, để kiềm chế lạm phát, công cụ hữu hiệu là thắt chặt chính sách tiền tệ.
Nguyễn Thanh Hải
14:29 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Nhiều chuyên gia cao cấp và cả những nhà kinh tế độc lập đều nhận thấy sự yếu kém của hệ thống ngân hàng thương mại.

Sự đúng đắn, hợp tình hợp lý của việc chưa cho phép thành lập thêm ngân hàng thương mại và cần phải nghiêm cấm việc các tập đoàn kinh tế của Nhà nước góp vốn thành lập ngân hàng thương mại do mình chi phối vốn.
Trần Hải Bằng - Đà Nẵng
14:15 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Một trong các sản phẩm ngân hàng rất quan trọng mà ngân hàng cần sớm nghiên cứu bổ sung để phát triển thương mại điện tử là thanh toán thẻ tín dụng qua ngân hàng.

Việc mua bán hàng hoá trên mạng internet còn quá nhiều khó khăn vì khâu thanh toán và thu tiền. Cả nước chưa có ngân hàng nào làm giải pháp thanh toán qua trang web, chỉ mới có một đơn vị là Techcombank có sản phẩm chấp nhận thanh toán fastvietpay (nhưng phí khởi tạo và thường niên lại cao và tính phí 4% giá trị/mỗi lần giao dịch)

Các nước tiên tiến đã tiếp cận đến "thế giới phẳng", còn chúng ta chưa tiếp cận được vì "cong" ở khâu ngân hàng - mà cụ thể ở đây là sản phẩm giải pháp thanh toán bằng thẻ tín dụng.
Vtlong
14:02 (GMT+7) - Thứ Sáu, 22/8/2008

Bài viết rất hay. Tôi hoàn toàn nhất trí với các phân tích và lập luận của tác giả.
 
Ý kiến của bạn
(Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu. VnEconomy xin chân thành cảm ơn bạn!)