Trong báo cáo "Duy trì sự phát triển của Việt Nam: Thách thức về năng suất",
Viện McKinsey toàn cầu đã đưa ra những điểm mà công chúng thế giới chưa biết về VN
Rõ ràng là ở Đông Nam Á đã có nhiều thay đổi kể từ chiến tranh Việt Nam.
Trong suốt hơn 25 năm qua, Việt Nam đã tự chuyển mình. Năm 2007, Việt Nam trở
thành thành viên chính thức của cộng đồng kinh tế toàn cầu thông qua việc là
thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Việt Nam đã trở thành nam châm
thu hút đầu tư nước ngoài và nhanh chóng phát triển từ một nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế tập trung vào sản xuất các sản phẩm có giá trị cao và
chuyên về dịch vụ. Tuy nhiên, nếu Việt Nam muốn duy trì sự phát triển đáng kể
như hiện nay, nước này cần tăng cường năng suất lao động trong lĩnh vực dịch vụ
và công nghiệp trong những năm sắp tới.
Trong báo cáo "Duy trì sự phát triển của Việt Nam: Thách thức về năng suất",
Viện McKinsey toàn cầu đã đưa ra những điểm khiến công chúng thế giới có thể rất
bất ngờ.
Việt Nam phát triển nhanh hơn bất kỳ một nền kinh tế châu Á nào khác trừ
Trung Quốc
Việt Nam, quốc gia từng bị chiến tranh tàn phá, là một trong những câu chuyện
thành công về kinh tế ở châu Á trong 1/4 thế kỷ qua. Kể từ khi đảng Cộng sản
tiến hành cuộc đổi mới năm 1986, nước này đã giảm các rào cản với thương mại và
dòng chảy của vốn, mở cửa kinh tế hơn nữa với doanh nghiệp tư nhân.

Trong thời
kỳ này, kinh tế Việt Nam đã mở rộng hơn bất kỳ một nền kinh tế châu Á nào khác
ngoại trừ Trung Quốc, với tăng trưởng GDP tính trên đầu người hàng năm là 5,3%.
Mức tăng trưởng này vẫn duy trì khi mà khủng hoảng tài chính châu Á diễn ra vào
những năm 1990 và khi kinh tế toàn cầu suy thoái. Kinh tế Việt nam tăng trưởng
7%/năm từ 2005 tới 2010, mạnh hơn nhiều những nền kinh tế châu Á khác.
Việt Nam ra khỏi những cánh đồng lúa
Nông nghiệp đã không còn là mối quan tâm chủ yếu của kinh tế Việt Nam. Trên
thực tế, phần đóng góp của nông nghiệp vào GDP nước nhà đã bị giảm 1/2, từ 40%
xuống còn 20% chỉ trong vòng 15 năm, sự chuyển đổi nhanh hơn nhiều so với những
nền kinh tế khác ở châu Á. So với Trung Quốc và Ấn Độ, sự chuyển đổi này lần
lượt là 29 năm và 41 năm.

Trong vòng 10 năm qua, phần đóng góp của nông nghiệp với số lượng việc làm
của đất nước đã giảm 13% trong khi số lao động làm trong ngành công nghiệp đã
tăng thêm 9,6% và dịch vụ tăng thêm 3,4%. Sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp
sang công nghiệp và dịch vụ đã góp phần to lớn vào việc mở rộng kinh tế của Việt
Nam do sự khác biệt khá lớn về năng suất giữa các ngành. Kết quả là, phần đóng
góp của nông nghiệp vào GDP đất nước đã giảm thêm 6,7% trong khi phần đóng góp
của công nghiệp tăng thêm 7,2% trong vòng 10 năm qua.
Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về tiêu, hạt
điều, gạo và cà phê

Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về tiêu, trong năm
2010 đã xuất khẩu 116.000 tấn , đồng thời đi đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều
trong 4 năm liên tiếp. Việt Nam cũng là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới
sau Thái Lan và chỉ sau Brazil về xuất khẩu cà phê, lượng hàng xuất khẩu của
Việt Nam đã tăng gấp 3 lần chỉ trong 4 năm. Việt Nam đứng thứ 5 thế giới trong
sản xuất chè và thứ 6 toàn cầu về xuất khẩu hải sản như cá, tôm.
Việt Nam không phải là "Trung Quốc+1"
Chi phí nhân công ở Trung Quốc tăng đã khiến một số chủ nhà máy chuyển sản
xuất sang Việt Nam, nơi mà mức lương của người lao động còn khá thấp. Xu hướng
này đã tiếp sức cho các cuộc hội đàm của nhiều CEO về việc Việt Nam trở thành
địa điểm lớn tiếp theo dành cho sản xuất hàng xuất khẩu, một phiên bản nhỏ hơn
của Trung Quốc hoặc Trung Quốc+1.

Tuy nhiên, Việt Nam khác xa Trung Quốc ở hai điểm. Thứ nhất, kinh tế Việt Nam
bị tiêu dùng cá nhân ảnh hưởng nhiều hơn Trung Quốc. Việc tiêu thụ của các hộ
gia đình chiems 65% GDP của Việt Nam, chiếm phần lớn - bất thường ở châu Á. Tại
Trung Quốc thì ngược lại, tiêu thụ cá nhân chỉ chiếm 36% của GDP.
Thứ hai, trong khi sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc xuất
phát từ sản xuất để xuất khẩu và mức đầu tư vốn cao đặc biệt thì kinh tế Việt
Nam cân bằng giữa sản xuất và dịch vụ hơn, mỗi thứ chiếm xấp xỉ 40% GDP. Sự tăng
trưởng của Việt Nam dựa trên nền tảng rộng lớn hơn, với sự cạnh tranh diễn ra
khắp nền kinh tế.
Việt Nam là nam châm thu hút đầu tư nước ngoài

Việt Nam hiện nằm trong hầu hết các danh sách những thị trường mới nổi hấp
dẫn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Theo khảo sát của phòng đầu tư và
thương mại và cơ quan tình báo kinh tế Anh, Việt Nam là đích đến hấp dẫn nhất
với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ sau bộ tứ là Brazil, Nga, Ấn Độ và
Trung Quốc. Số FDI chảy vào Việt Nam tăng từ 3,2 tỷ USD năm 2003 lên 71,7 tỷ USD
năm 2008 trước khi tụt xuống 21,5 tỷ USD vào năm 2009 do suy thoái toàn cầu.
Việt Nam có cơ sở hạ tầng đường sá hiện đại hơn Philippines và Thái Lan

Việt Nam đã bắt đầu có những khoản đầu tư đồ sộ vào cơ sở hạ tầng. Nhiều du
khách tới Việt Nam coi đường sá ở đây là khá cơ bản. Tuy nhiên, để phát triển
kinh tế, Việt Nam đã bổ sung thêm nhiều đường sá, mật độ đường đã lên tới
0,78km/km vuông vào năm 2009, cao hơn mật độ ở Philippines và Thái Lan, hai nền
kinh tế phát triển mạnh. Cùng năm, mạng lưới điện đã phủ hơn 96% quốc gia này.
Thế hệ trẻ Việt Nam đang online
Dân số Việt Nam trẻ, có học thức và ngày càng sử dụng mạng rất nhiều. Thuê
bao điện thoại di động ở Việt Nam tăng gần 70%/năm trong khoảng thời gian 2000
và 2010, so với chưa đầy 10%/năm ở Mỹ cùng thập niên. Tới cuối 2010, Việt Nam có
170 triệu thuê bao điện thoại di động. Việc sử dụng internet ở Việt Nam cũng
tăng mạnh, hiện giờ 94% người dùng internet Việt Nam truy cập các trang tin tức
trực tuyến, hơn 40% người dùng internet truy cập web mỗi ngày.
Việt Nam trở thành điểm hàng đầu cho các dịch vụ gia công
Có hơn 100.000 người đã làm việc trong ngành dịch vụ gia công và lao động
xuất khẩu. Một số công ty đa quốc gia nổi tiếng đã thiết lập hoạt động ở Việt
Nam gồm Hewlett-Packard, IBM, và Panasonic. Trên thực tế, Việt Nam có tiềm năng
trở thành một trong 10 dịa điểm hàng đầu thế giới về lĩnh vực này, do có số
lượng sinh viên đã tốt nghiệp tương đối lớn và mức lương thấp. Giá thuê một lập
trình viên phần mềm ở Việt Nam chưa đầy 60% giá thuê một nhân công tương tự ở
Trung Quốc.