|
Vùng Nam Giang (Nam Trực, Nam Định) từ lâu đã được mệnh danh là “đất trăm nghề” với truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời. Nơi đây còn lưu giữ được một vốn di sản quý báu, đó chính là nghệ thuật rối đầu gỗ “Ổi lỗi” chùa Đại Bi, hay còn gọi là hát và múa rối hầu thánh. Đây là loại hình rối cạn độc đáo “có một không hai”của xứ Bắc; theo lệ cổ chỉ được diễn một đêm cúng giao thừa 30 tháng Chạp và trong dịp lễ hội tại chùa Bi tổ chức vào mỗi dịp tháng Giêng.
Huyền sử rối đầu gỗ chùa Đại Bi
" Thứ nhất là hội Phủ Dày
Vui thì vui vậy, không tày chùa Bi…"
Chùa Đại Bi được xây dựng từ thời Lý, có tên chữ là Đại Bi Tự. Lễ hội chùa Bi và trò rối cạn Ổi lỗi gắn liền với sự xuất hiện và công lao của Thiền Sư Từ Đạo Hạnh. Theo lời ông Nguyễn Tiến Dũng, một nghệ nhân lâu năm trong phường hát rối thì xung quanh sự ra đời của rối đầu gỗ có nhiều câu chuyện mang tính huyền hoặc. Tương truyền, một lần Thiền sư đang đi thuyền dạo trên sông thì thấy một cái bọc nổi lềnh bềnh, khi vớt lên xem thì thấy trong đó có sáu đứa trẻ quái thai, động lòng trắc ẩn và từ tâm, Thiền sư đã đem sáu đứa trẻ về chùa nuôi nấng và dạy dỗ . Để tưởng nhớ công lao và đại đức của Thiền sư, nhân dân đã sáng tạo ra sáu đầu rối, mang khuôn mặt của sáu người trưởng thành, khôn lớn, ước mơ về một tương lai tốt đẹp. Đây là tích phổ biến nhất về lịch sử của trò rối cạn độc đáo này.
Song cũng có truyền thuyết kể lại, sau khi thu phục mười hai con sóng dữ chuyên dâng nước ngập lụt hại dân lành, chính đức thánh Từ là người sáng tạo ra các đầu rối và truyền dạy hát rối cho người dân nơi đây. Trò diễn rối cạn cùng với sự xuất hiện của sáu đầu rối là sự thể hiện lòng biết ơn và tôn kính của nhân dân đối với Thiền sư, người đã có công lao cảm hóa độ đức cho chúng sinh.
Mỗi năm, sau khi qua ngày mùng 8 chợ Viềng, người dân Nam Định lại nô nức đón chờ lễ hội chùa Bi, hội được mở từ 20 đến hết 22 tháng Giêng. Rối cạn Ổi lỗi (từ cổ, dùng để chỉ những tượng nhỏ, búp bê nhỏ) chính là nét đặc sắc nhất của lễ hội. Ban ngày nhân dân đi lễ, cúng tế, múa rồng… ban đêm tập trung lại để cùng thưởng thức những màn múa rối hầu thánh đặc sắc. Hội biểu diễn rối bao gồm cả múa và hát rối, thường bắt đầu từ sáu, bảy giờ tối hôm trước đến tận hai, ba giờ sáng hôm sau. Sau các nghi thức tế lễ, “Thập nhị thánh tượng” sẽ được các nghệ nhân phường rối rước ra khỏi nơi thờ tự trong chùa và diễn “hầu thánh”.
Loại hình rối cạn “độc nhất vô nhị”
Hiện nay, ngoài rối Ổi lỗi thì chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay một số nơi còn duy trì được hoạt động múa rối cạn như Định Hóa (Thái Nguyên), Tế Tiêu (Hà Nội). Nhưng không đơn thuần như ở những vùng khác chỉ là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian để giải trí, rối Ổi lỗi chủ yếu được biểu diễn “hầu thánh”, tức là múa rối để cho các “thánh” xem. Rối đầu gỗ chùa Bi không kém phần sống động, tươi vui, song chính vì mang đậm tính chất lễ nghi, thờ cúng nên những hành động và tiến trình của lễ hội không thể tự do như rối cạn thông thường mà phải tuân theo quy tắc riêng nhất định.
Quan niệm của nhân dân từ xưa đều coi những đầu rối nơi đây là “thánh tượng”, bất kì ai cũng không được phép gọi thánh tượng là “con rối’. Trước khi tổ chức hát rối, người ta phải làm thủ tục tế lễ xin phép rước và đưa thánh tượng từ nơi thờ tự ra nơi biểu diễn. Lễ xin phép chia làm bốn phần: lễ thánh y, lễ rước thánh tượng, lễ tắm tượng và lễ dâng tượng. Chỉ có những người có vai vế trong phường hát rối mới được phép rước thánh tượng. Lệ cổ duy trì từ xưa đến nay, tất cả các thành viên trong phường đều là nam giới, chia làm hai nhóm: nhóm cấp trước và nhóm cấp sau. Trong mỗi đêm hội, những nghệ nhân biểu diễn mặc áo dài thâm, quần trắng, đội khăn xếp.
Yếu tố làm nên sức sống và linh hồn của lễ hội rối cạn chùa Bi là những đầu rối gỗ, hay còn gọi là “Thập nhị thánh tượng” gồm sáu tượng rối lớn và sáu tượng rối nhỏ, đã có niên đại hơn 400 năm. Sáu tượng rối lớn cùng cỡ được gọi là sáu “ông Lộng”, làm từ gỗ mít khoét rỗng sau đó phủ sơn ta. Trong số những đầu tượng này có đôi tượng “chúa Lộng” mang gương mặt của quan văn, quan võ màu đỏ sẫm, với đường nét thể hiện cho bậc chính nhân quân tử: hai chòm ria vểnh sang hai bên, mắt nhìn thẳng quắc thước. Ngoài ra còn có đôi “Chàng cát” (hay còn gọi là đôi tượng “Cóc vàng”) sơn mặt màu hồng nhạt, mang dáng vẻ của một thư sinh và một lão nông. Còn đôi pho tượng “Tùy trắng” có miệng rộng cười khoáng đạt, da trắng, khuôn mặt rạng rỡ, biểu thị cho sự no đủ, khỏe mạnh. Bên cạnh sáu thánh tượng lớn, tại chùa Bi còn lưu giữ sáu tượng rối nhỏ hơn bằng gỗ đặc, tượng trưng cho sáu nhân vật: một tượng Chàng đội mũ lục giác, tượng hai nàng tiên, tượng ông Chớp mặt đỏ, tượng hoàng hậu tai đeo hoa và tượng ông Mách mặt to, dáng điệu dữ tợn.
Nhạc cụ minh họa cho trò hát rối này hầu hết thuộc bộ gõ, đều là những nhạc cụ dân gian đơn giản và được chia làm hai nhóm. Nhóm nhạc biểu diễn theo tiết tấu của điệu múa, lời hát rối bao gồm một trống bản, một trống cơm, một thanh la và thêm một số mõ tre. Góp phần tạo nên sự phong phú về âm thanh còn có nhóm nhạc đế với trống túc, chuông đẩu và một trống cái dùng để cầm canh chuyển làn điệu. Mỗi khi trình diễn, lời hát với ngôn ngữ cổ xưa hòa cùng nhịp đệm của phách tạo nên một không gian văn hóa nghệ thuật mộc mạc mà vẫn trang trọng, mang đậm tính tâm linh.
Phường rối chùa Đại Bi do ba thôn Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tư phụng sự. Anh Trần Xuân Bình, một người đã có kinh nghiệm hơn 20 năm trong phường cho biết: Đứng đầu mỗi thôn là một ông trùm, họ là những người có tuổi “nghề” gia nhập lâu năm nhất, có nhiều kinh nghiệm biểu diễn cũng như thuộc nhiều làn điệu và động tác múa rối. Các ông trùm sẽ là những người diễn mở đầu và kết thúc, hay hát những phần lời khó, mang tính chất “bí truyền”. Những lời hát cứ nối nhau liên tiếp, giữa các phần chỉ nghỉ một khoảng thời gian rất ngắn đủ để người nghe nhận biết việc chuyển bài hoặc thay đổi người hát.
Kinh văn (ca từ) biểu diễn khi hát rối Ổi lỗi chủ yếu mang nội dung nói về công lao của đức thánh Từ, ca ngợi đất nước thái bình thịnh trị, vua sáng tôi hiền. Những lời ca mộc mạc trong một số màn hát múa như “dâng Chàng”, “vãn cách”, “dâng chầu chuẩn”… đã thể hiện được tình đoàn kết, đồng tâm nhất trí của cư dân vùng sông nước để chống lại thiên tai địch họa, cầu mong mưa thuận gió hòa. Trong khi đó những bài “Ngũ canh”, “Giáo chinh phu”… lại nhấn mạnh nội dung răn dạy đạo lý làm người như tam cương ngũ thường, đạo vợ chồng, khuyến học khuyến tài. Trung bình mỗi bài sẽ trình diễn trong khoảng từ 30 – 40 phút, điệu hát nhanh nhất là hát múa “dâng ông Chớp”, chỉ khoảng hơn một phút, còn những điệu như “Ngũ canh” thường kéo dài tới gần hai tiếng đồng hồ. Thời gian biểu diễn dài, đầu rối nặng (mỗi đầu rối lớn khoảng 3 – 3,5 kg), nhưng theo quan niệm duy tâm của người dân nơi đây thì đánh rơi đầu rối khi biểu diễn hầu thánh là điều đặc biệt kiêng kị. Nếu phạm phải lỗi này, người đó sẽ bị thần linh quở phạt, vì vậy không ai dám lơ là.
Để biểu diễn rối Ổi lỗi, người ta dựng một tấm vải sặc sỡ mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong lòng chùa, tượng trưng cho sóng nước mênh mang. Lúc này sáu “ông Lộng” đã được “mặc áo” (gọi là the) phủ từ cổ tượng trở xuống, đồng thời che tay người điều khiển. Các nghệ nhân sẽ đứng sau tấm màn, biểu diễn sao cho đầu rối hướng về phía bàn thờ Phật và Thiền sư Từ Đạo Hạnh, vì thế nghệ thuật này mới có tên gọi khác là rối “hầu thánh”. Sau sáu đầu rối lớn mới là sự xuất hiện của sáu đầu rối gỗ đặc có kích thước nhỏ hơn, được chia thành năm lớp diễn đơn và diễn đôi. Những tượng rối đầu gỗ với màu sắc tươi sáng, hình dáng lạ mắt, động tác múa nhịp nhàng của người nghệ nhân hòa quyện cùng lời ca câu hát, đã tạo nên sự đặc sắc của một loại hình biểu diễn độc nhất vô nhị.
Đi về đâu một di sản dân gian
Hiện nay phường rối chùa Đại Bi có khoảng gần 50 người, phần lớn đều đã cao tuổi. Cụ Chánh trùm phường Vũ Huy Rính, cũng là ông trùm của thôn “anh cả” Vân Chàng năm nay đã bước sang tuổi 79, còn các bậc “lão làng” như ông Đoàn Hữu Sòng, Cao Công Lân, Nguyễn Tiến Dũng, Đoàn Văn Tiến… cũng đều ngấp nghé “thất thập”. Nếu như xưa kia trai làng nô nức biện lễ để xin vào phường rối thì nay, cùng với sự phát triển của nhịp sống hiện đại, lớp trẻ không còn mặn mà với truyền thống như trước, đến dịp lễ hội biểu diễn cũng chẳng mấy ai còn ngồi xem đến cuối buổi. Bằng giọng thoáng buồn, ông Dũng tâm sự: “Mong bọn trẻ tiếp nối lắm, nhưng giờ chúng nó bẵng đi, chẳng mấy đứa còn tha thiết cả…”. Gần 50 thành viên nhưng giờ đây số người có thể đảm nhận được việc biểu diễn 50% chương trình trở lên chưa tới 20 người, còn để đảm nhận được toàn bộ thì gần như không còn ai. Vì ngày càng thưa người kế cận nên nguy cơ mai một là rất gần, chưa nói đến việc học lời, học làn điệu hát hay cách thức múa rối không hề đơn giản, cần phải có thời gian dài và đặc biệt là sự yêu thích tự nguyện với loại hình truyền thống này.
Phường rối hiện tại có một bộ tượng “dự bị” chuyên dùng để tập, còn Thập nhị thánh tượng chùa Đại Bi với tuổi thọ hơn 400 năm đang được lưu giữ đằng sau nơi thờ tự của chùa. Mười hai tượng rối được bảo quản trong điều kiện chật chội và ẩm thấp, một đầu rối trong đôi tượng “Tùy trắng” đã bắt đầu bị hư hại. Các cụ trong phường rối đều biết nhưng “lực bất tòng tâm”, vì lo đóng góp kinh phí đủ để duy trì được hoạt động tập và biểu diễn đều đặn mỗi dịp lễ hội đã là rất cố gắng. Rối đầu gỗ chùa Bi cũng đã từng “khăn gói đi diễn” ở Thủ đô và được Viện âm nhạc về ghi hình làm tư liệu. Song chừng đó chưa đủ để được gọi là hoạt động quảng bá và bảo tồn trò rối cạn “độc nhất”, mang đậm tính văn hóa, tín ngưỡng này. Đi về đâu một di sản nghệ thuật dân gian hơn 400 năm tuổi, đó vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp./.
|