Hồi ký của một luật sư theo Đảng

Xem tin gốc 

Bee.net.vn - 30 tháng trước 34 lượt xem

Hoi ky cua mot luat su theo Dang

Khi được phép yết kiến Bác Hồ ngày 4/2/1955, Bác đã dạy tôi: “Chú phải coi người dân Việt Nam là chủ của chú, dẫu chú ở bất luận công tác nào với cương vị gì. Vì vậy phụng sự người dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ là một nhiệm vụ chủ yếu của cán bộ”.

Phục vụ dân chứ không phải làm vừa lòng cấp trên

Khi bắt đầu nhận thức cuộc sống sa đọa của mình là vì bám vào chân của thực dân thống trị để chia phần bóc lột nhân dân, tôi nhờ bạn tốt là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giúp đỡ đưa vào Mặt trận Việt Minh để trở về với dân tộc.

Được phân công làm công tác “trí vận” và “công giáo vận” tôi hoạt động liều lĩnh, ỷ lại vào quá khứ không tốt đẹp của mình.

Chỉ từ 23/9/1945, khi thực dân Pháp bao vây để bắt, hướng là để thủ tiêu và được nhân dân cứu vớt, tôi mới hiểu giá trị của người dân Việt Nam, thêm vào đó được nhân dân quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng, tôi mới thực sự giác ngộ.

Từ năm 1946 khi được chỉ định làm ủy viên Ủy ban hành chánh Nam bộ kiêm giám đốc sở Tài chánh Nam bộ tôi đã làm được một số việc. Nhận thức được cuộc kháng chiến sẽ lâu dài mà quân đội phải đánh giặc và hành chánh phải sống để lãnh đạo thì tiền bạc được cung cấp không sao thiếu được.

Nhân dân rất tốt, giúp quân đội và hành chánh bằng lúa, bằng tiền, lạc quyên. Số thu hoạch như vậy không đảm bảo được việc chống giặc lâu dài. Tuy trên cơ sở sách vở vì thiếu kinh nghiệm, tôi bắt đầu xây dựng ra khung thuế theo lối tư sản, thì tiền hay lúa thu được đã có tác dụng đảm bảo cho hoạt động quân sự và hành chánh khá vững.

Thiếu tiền, tôi xuất tiền riêng để mua vũ khí, nhưng tài sản của tôi chỉ có hạn không phải là vô tận. Thực dân phải được quân đội đánh bại. Tuy đã lấy tài sản riêng (200 lạng vàng) cấp cho quân đội mua vũ khí đánh thực dân, nhưng số này không thấm vào đâu, phải có nhiều vũ khí hơn nữa mới mở được nhiều chiến dịch. Mua vũ khí phải dùng tiền Đông Dương ngân hàng (ĐDNH).

Tiền ở đâu? Vô cùng khó khăn bối rối! Trước dấu hỏi của các quân khu, đòi hỏi đúng?

Bán lúa cho Pháp để chống Pháp

Một hôm tình báo của ta ở Sài Gòn báo tin là bọn tư sản Pháp – Hoa vừa ký một hợp đồng cung cấp gạo rất nhiều lời lãi. Được sở Kinh tế thông tin, tôi đề nghị liên lạc mở cuộc điều tra.

Một thời gian sau, tình báo nhiều nơi ở Sài Gòn cho biết là hoàn toàn đúng như vậy. Biết rõ là vùng địch chiếm, mùa màng không sao cung cấp đủ cho bọn tư sản buôn bán lúa gạo và vùng giải phóng lại trúng mùa. Nông dân chở lúa ra thành bán với giá là 20đ ĐDNH (khoảng 20kg/giạ) chở ra nhiều thì giá hạ thấp.

Tôi nảy ra ý nghĩ là nên thử nghiệm lời nhận định của anh Ba Duẩn, nếu đúng là cơ hội kiếm được nhiều tiền ĐDNH cho quân đội.

Trên cơ sở thử nghiệm, tôi trình với Ủy ban ý kiến là nên mua tất cả lúa của nông dân với giá 20đ/giạ, trả phân nửa bằng tiền ĐDNH. Trường hợp có người vùng tạm chiếm vào vùng giải phóng để mua lúa thì bắt giải dẫn sở Kinh tế Nam bộ.

Ý kiến đề xuất của tôi được toàn thể Ủy ban Nam bộ chấp nhận. Không lâu sau, công an Nam bộ đã giải đến sở Kinh tế Nam bộ một số người đã vào vùng giải phóng mua lúa cho bọn tư sản Pháp – Hoa.

Khai thác bọn này, tôi biết được là vì không có lúa để thực hiện hợp đồng ký kết, chúng nhờ họ vào vùng giải phóng để mua. Nắm được cơ hội làm ra tiền ĐDNH cung cấp cho quân đội, tôi đề nghị với Ủy ban đòi bọn họ được trả tự do một số điều kiện là:

– Nam bộ sẽ cung cấp lúa với giá 40đ ĐDNH/giạ.

– Chỉ cung cấp lúa ở một cửa khẩu nào đó thôi.

– Tại đây quân đội Pháp – ngụy không được bắn phá.

– Cung cấp đầy đủ những vật liệu mà kháng chiến yêu cầu.

Chúng thỏa thuận thay mặt bọn tư sản các điều trừ giá cả chúng hạ còn 32đ/giạ. Ủy ban Nam bộ đồng ý vì nếu thực hiện được trót lọt đó là cơ hội để thu một số tiền ĐDNH rất lớn.

Đúng với dự kiến, Nam bộ mua của nông dân một khối lượng lúa rất nhiều để xuất ra thành. Thuyền bè tấp nập ở cửa khẩu, không có quân đội Pháp – ngụy bén mảng đến. Tiền trao cháo múc.

Nông dân rất hồ hởi. Nam bộ thu được tiền ĐDNH với số lượng rất lớn.

“Việt Nam hóa” đồng bạc của giặc

Khi bọn phát xít Nhật xâm chiếm Việt Nam, chúng hùa với bọn thực dân để bóc lột nhân dân đến tận xương tủy. Một trong biện pháp để áp dụng, chúng ra lệnh cho nhà in I.D.E.O in nhiều giấy bạc ĐDNH loại 100đ. Giấy bạc này lưu hành song song với giấy bạc ĐDNH được đảm bảo bằng kim khí quý đến lúc bọn thực dân tái chiếm Việt Nam ngày 23.9.1945.

Bọn thực dân biết được các cơ quan kháng chiến như nhân dân ở vùng giải phóng có nhiều loại giấy bạc do Nhật đã in và cho lưu hành. Để hạn chế mức đề kháng của Nam bộ, chúng tuyên bố là đến ngày nào đó, loại giấy bạc này phải được đổi vì sẽ không còn giá trị lưu hành. Ở vùng địch chiếm, việc đổi tiền không khó, song ở vùng giải phóng việc đổi chác gặp nhiều trở ngại.

Vì vậy mà trong vùng giải phóng, nền kinh tế lâm vào cảnh bế tắc, việc mua bán không còn. Ủy ban Nam bộ nhận điện mật của các tỉnh kêu cứu, Ủy ban chỉ đạo tôi phải giải quyết. Làm gì đây? Tôi mất ăn mất ngủ một số ngày để tìm biện pháp tháo gỡ. Cuối cùng tôi nghĩ đến “Việt Nam hóa” loại giấy bạc này.

Bước đầu, tôi nghĩ ra biện pháp Việt Nam hóa giấy bạc là dùng một loại con dấu để đóng vào loại giấy bạc. Biện pháp này đòi hỏi phải có nhiều con dấu để chuyển cho các huyện, các tỉnh. Vì bị chia cắt, việc đi lại rất khó khăn nên biện pháp này không sao áp dụng nổi. Cuối cùng tôi nghĩ ra được biện pháp có thể thực thi: nơi nào cũng có con dấu. Đóng con dấu vào giấy bạc không được lưu hành tạo cho giấy bạc giá trị lưu hành.

Để kiểm tra ở các địa phương cần biết những đặc điểm (chỉ có lãnh đạo mới được thông báo) là mỗi tờ giấy bạc đều có con số và có mười góc (0 đến 9). Căn cứ vào con số để biết góc nào nên đóng con dấu. Tìm ra biện pháp này, tôi báo cáo với Ủy ban và Ủy ban nhất trí với tôi. Do đó, mật điện được gởi cho các tỉnh.

Không lâu sau, nền kinh tế trở lại bình thường.

Phục vụ dân chứ không phải phục vụ lãnh đạo

Khi được phép yết kiến Bác Hồ ngày 4.2.1955, Bác đã dạy tôi: “Chú phải coi người dân Việt Nam là chủ của chú, dẫu chú ở bất luận công tác nào với cương vị gì. Vì vậy phụng sự người dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ là một nhiệm vụ chủ yếu của cán bộ”.

Trong quá trình công tác tại Hà Nội, tôi được Bác Hồ dạy dỗ. Người luôn nhắc tôi biện pháp công tác trên, có lúc Người còn nói thêm, đại ý: “Phục vụ quyền lợi chính đáng của nhân dân là phục vụ Đảng đó, chớ không phải phục vụ lãnh đạo, chớ không phải làm như vậy là mới coi là làm vừa lòng cấp trên có khả năng chưa nắm bắt được thực tế”.

Lúc tôi làm công tác tòa án, Bác còn nhắc tôi coi chừng đừng sa vào cảnh bị mua chuộc, phải trong sạch, liêm khiết. Dầu là đứa học trò dở nhất của Bác, lời dặn dò, dạy dỗ của Bác vẫn là kim chỉ nam đối với mọi hoạt động của một chánh án có nhiều quyền.

Nhờ sự giáo dục tận tình như vậy, tôi tránh được hai lần bị mua chuộc bằng thể xác và nhiều lần bằng vật chất. Dẫu tôi ở cảnh túng thiếu nghèo nàn.

Giải oan cho một tử tội

T.V.H bị tòa án tỉnh xử tử hình về tội giết người để lấy người tình. Bị cáo kháng cáo kêu oan. Có trách nhiệm xét xử lại, tôi nhận nhiều đơn khiếu oan, nhưng không nói rõ oan ở chỗ nào. Hồ sơ chứng minh đầy đủ là vợ y bị giết và xác liệng xuống sông để phi tang. Đến tỉnh để xét xử, bị cáo đòi gặp chánh án, tôi xin công an tỉnh cho phép tôi gặp T.V.H.

Bước đầu công an từ chối vì T.V.H bị xử tử hình nên giam ở xà lim, nếu gặp chánh án y có khả năng hành hung. Vì có đơn kêu oan hơn nữa vì quyền lợi của người dân, tôi phải gặp họ. Đó là trách nhiệm. Không trích xuất T.V.H để dẫn giải đến tôi, nhưng tôi có thể đến xà lim với sự bảo vệ của công an. Bởi yêu cầu của tôi là chính đáng nên cuối cùng công an chấp nhận.

Gặp bị cáo tại xà lim, T.V.H không có đặc điểm gì cần lưu ý, song nhìn con người tôi cho rằng y có vẻ chất phác. Giọng nói của y, cách diễn tả sự việc, tôi nhận thấy có điều uẩn khúc.

Tôi cho y biết là tòa phúc thẩm cần biết hết sự thật và sẵn sàng minh oan cho y nếu y vô tội. Điểm mà tòa án cần biết là lúc vợ y bị giết y ở đâu, phải nêu cho được bằng chứng cụ thể. T.V.H im lặng rất lâu và cuối cùng y thổ lộ là lúc đó y đang ở với một phụ nữ mà chồng đã đi B từ lâu.

Nếu câu chuyện vỡ lở thì người phụ nữ mà y rất yêu mến sẽ rơi vào cảnh đau khổ, hạnh phúc cũng như cuộc đời sẽ tan vỡ, vì lẽ đó y không khai nên bị xử oan.

Hôm sau, tôi hoãn xét xử vụ T.V.H. Tôi có thể giao hồ sơ và phản ảnh mọi sự việc với cơ quan điều tra tỉnh, nhưng kinh nghiệm cho tôi biết là cơ quan tỉnh ít quan tâm đến điểm mới của hồ sơ, cứ bám vào cái cũ. Về Hà Nội, tôi giao hồ sơ cho cục Chấp pháp của bộ Công an tiến hành điều tra. Một thời gian, cục Chấp pháp hoàn thành cuộc điều tra, vì đã bắt kẻ giết người đã thú tội với chứng cứ rõ ràng.

Theo hồ sơ mới thì tên bị bắt thú nhận là cùng đi buôn hàng chuyến và đã hẹn với vợ của T.V.H ở một nơi vắng. Biết chị ta có nhiều tiền nên tại nơi vắng người, y giựt số tiền của chị. Do phản ứng của nạn nhân, y bắt buộc phải bóp cổ, vì bóp quá mạnh nên vợ anh T.V.H nghẹt thở đã chết. Y đã liệng xuống sông để phi tang.

Ngoài đồng bào địa phương cho biết tên này đã mua sắm nhiều và cục Chấp pháp đã tìm trong gối của y đôi bông tai của vợ T.V.H. Trước những bằng chứng cụ thể như vậy, tôi mở phiên tòa tạm trả tự do cho T.V.H đã minh oan cho y.

Cãi lệnh trên

Một vụ điển hình khác. P.V.T chủ nhiệm xí nghiệp dược phẩm ở Hải Dương bị giam giữ và bị tòa sơ thẩm xử về tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa dầu hồ sơ không có chứng cứ rõ ràng. Nguồn gốc của vụ án là do mâu thuẫn trong cấp ủy và lãnh đạo địa phương ở chỗ anh T, đảng viên, bị bắt trước đây và bị đày ra Côn Đảo nên có nghi vấn khai báo đầu hàng địch.

Dẫu nghi vấn được chứng minh nó không liên quan đến tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa. Vì lẽ đó mà cán bộ, đảng viên công tác tại Hải Dương không tán thành biện pháp truy tố và xét xử và đã có ý kiến phản đối.

Dẫu thật trạng là như vậy, đồng chí ủy viên Bộ Chánh trị, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn ra lịnh truy tố và xét xử. Không rõ một số thẩm phán tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao cũng đồng tình và gợi ý là khi xử lại tôi nên y án sơ thẩm. Tòa án tối cao cũng theo ý kiến của đồng chí ủy viên Bộ Chánh trị. Biết tôi không tuân lịnh một cách mù quáng nên có đồng chí thẩm phán Tòa án tối cao nói với tôi: “Coi chừng cái niêu của anh”. Tôi chỉ trả lời, nếu “vì cái niêu” tôi đã theo bọn thực dân.

Tôi đi Hải Dương với tâm trạng như vậy. Để cho quần chúng, đặc biệt là công nhân viên chức ở Hải Dương có điều kiện tham dự phiên tòa để chứng minh là tòa án có trách nhiệm bảo vệ luật pháp là “chân lý”, là đường lối của Đảng, tôi có công văn chánh thức mượn hội trường lớn của ủy ban nhân dân tỉnh để mở phiên tòa, yêu cầu của tôi không được chấp nhận.

Vì tòa án Hải Dương xử sơ thẩm không thông với quyết định bị áp đặt của mình, tôi kiến nghị với tòa án Hải Dương là sẽ xử vụ án tại phòng xử án nhỏ bé của tỉnh với điều kiện là cho mắc loa thêm ngoài đường phố xung quanh trụ sở của phòng xử án tỉnh. Để cho công nhân viên chức tỉnh Hải Dương có điều kiện dự phiên tòa và theo dõi mọi diễn biến, phiên tòa sẽ bắt đầu hồi 18 giờ.

Cuộc thẩm vấn công khai tại phiên tòa làm cho chứng cứ mong manh của hồ sơ bị phá sản. Mọi người dự và nghe cuộc phỏng vấn và chất vấn đều có thể nhận định như vậy. Viện kiểm sát phúc thẩm, một bộ phận của Viện kiểm sát tối cao đã nhận chỉ thị của lãnh đạo nên (dầu các chứng cứ đã bị đánh tan) vẫn cứ bám vào luận điểm buộc tội vì cho rằng có đủ cơ sở thành tội.

Quần chúng đứng xung quanh phòng xử án phản ứng bằng cách la lối, Viện kiểm sát phúc thẩm không thuyết phục được quần chúng. Khi nghị án lời lẽ và lập luận của bản án với quyết định án cho rằng anh T. không có tội và được tha bổng thì cuộc vỗ tay không ngớt của quần chúng đã chấm dứt phiên tòa. Tuy trời còn tối (khoảng 2 giờ sáng) Viện kiểm sát phúc thẩm vẫn lên đường về Hà Nội để báo cáo.

(Theo SGTT Tết 2010)

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang