Hoàn thành dự án Nghiên cứu Vitranss2: Tối thiểu cần 70 tỉ USD phát triển bền vững hệ thống GTVT đến năm 2030

Xem tin gốc 

Báo GTVT - 28 tháng trước 198 lượt xem

Ý tưởng chủ đạo của VITRANSS2 là phát triển giao thông vận tải bền vững, có tác dụng hỗ trợ thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng và giảm nghèo.

Dự án Nghiên cứu toàn diện về phát triển bền vững hệ thống GTVT Việt Nam (VITRANSS 2) do đơn vị tư vấn quốc tế của JICA (Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản) thực hiện theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam, đã hoàn thành sau 2 năm tiến hành nghiên cứu.

Tới dự Lễ bàn giao chiều ngày 12/3/2010, Thứ trưởng Thường trực Bộ GTVT Ngô Thịnh Đức đánh giá cao về các kết quả nghiên cứu này, cho rằng đây là một trong những cơ sở dữ liệu khoa học xác đáng và toàn diện để xây dựng một chiến lược tổng thể phát triển ngành GTVT. Kết quả của VITRANSS 2 sẽ là cơ sở để triển khai các dự án GTVT cụ thể trong tương lai ở Việt Nam.

VITRANSS 2 đã hoàn thành mục tiêu xây dựng những kịch bản hoàn chỉnh về cơ sở hạ tầng và dịch vụ GTVT ở Việt Nam đến năm 2030.

Trên ý tưởng chủ đạo này, các chuyên gia đã tiến hành các khảo sát thực tế đối với tất cả các phương thức GTVT tại các vùng, miền của Việt Nam, nghiên cứu các kịch bản về tốc độ phát triển kinh tế quốc gia, tính toán nhu cầu GTVT quốc gia từng giai đoạn đến năm 2030.

Thống kê quốc gia và các khảo sát GTVT của VITRANSS cho thấy rõ nhu cầu GTVT của Việt Nam trong tương lai đến giai đoạn 2030 sẽ tăng mạnh. Về lượt hành khách và tấn sẽ tăng 300% - 400% so với năm 2008. Về hành khách/km và tấn/km sẽ tăng trên 700%-800% so với 2008. Vận tải hành khách, năng lực đường bộ tại nhiều khu vực sẽ bị quá tải, năng lực đường sắt thường tại khu vực quanh Hà Nội và TP Hồ Chí Minh sẽ không đáp ứng được nhu cầu, năng lực sân bay tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh đều thiếu hụt.

Cũng vậy với vận tải hàng hóa: Nhu cầu vận tải hàng hóa bằng đường sắt sẽ tăng nhanh, nhu cầu vận tải ĐTNĐ tăng nhanh, đặc biệt tại ĐBSCL, năng lực thông qua của phần lớn các cụm cảng sẽ quá tải.

Hệ thống GTVT quốc gia đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và giảm nghèo của Việt Nam, được VITRANSS phác họa rõ: đó là một mạng lưới và dịch vụ GTVT đa phương thức cạnh tranh cấp quốc gia và quốc tế, trong đó mạng lưới và dịch vụ GTVT địa phương liên kết hiệu quả với hệ thống GTVT vùng và quốc gia. Từng bước đi chiến lược cho kế hoạch phát triển này cũng đã được VITRANSS 2 khuyến nghị với những dự án cụ thể, mức đầu tư yêu cầu / khả năng vốn đầu tư của quốc gia.

Mạng lưới GTVT Việt Nam được phân bố rõ tại các cụm phát triển kinh tế, các hành lang phát triển và các cửa ngõ quốc tế. Có 3 cụm phát triển chính yếu phân bố tại 3 vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, miền Trung và phía Nam và các cụm thứ yếu ven biển, các cụm thứ yếu vùng cao. Các cụm phát triển này được kết nối với nhau và với các vùng, miền khắp cả nước bằng 32 hành lang. Hành lang xương sống của quốc gia là hành lang Bắc - Nam và hành lang Đông - Tây được xác định tại khu vực miền Trung.

Trên khung phát triển chung này, VITRANSS2 đưa ra: Tổng hợp chiến lược phát triển ngành GTVT toàn diện và dài hạn theo mục tiêu đến năm 2030; Xây dựng kế hoạch tổng thể GTVT toàn diện và trung hạn theo mục tiêu đến năm 2020; Xây dựng chương trình đầu tư ngắn hạn cho giai đoạn 2011-2015; Xây dựng kế hoạch tổng thể mạng lưới đường cao tốc Bắc - Nam và tiến hành nghiên cứu tiền khả thi cho các đoạn tuyến ưu tiên; Lập kế hoạch sơ bộ cho đường sắt cao tốc Bắc - Nam.

Theo các nghiên cứu của VITRANSS2, yêu cầu vốn đầu tư cho quy hoạch tổng thể GTVT Việt Nam đến 2020 lên đến 70 tỉ USD (nếu không tính phương án đường sắt cao tốc Bắc - Nam) và lên đến 89,1 tỉ USD nếu tính phương án đường sắt cao tốc Bắc - Nam.

Nghiên cứu cũng tính toán cho thấy khả năng ngân sách có thể huy động được cho GTVT của Việt Nam, mức thấp nhất là 37 tỉ USD, mức cao nhất lên đến 96 tỉ USD (dựa trên các giả định về tăng trưởng GDP hàng năm các mức đầu tư cho GTVT từ thấp 3% GDP, trung bình 5% GDP và cao nhất 7% GDP).

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang