Hoài Thanh, một sự nghiệp rộng lớn và sâu sắc

ĐCSVN - 10/07/2009 08:53 2 tin đăng lại

Hoai Thanh, mot su nghiep rong lon va sau sac

Nhà văn Hoài Thanh

(ĐCSVN) - "...Di sản của Hoài Thanh là một khối đồ sộ những ký thác và tin tưởng, thật đáng tự hào. Tài sản của Hoài Thanh đã đi vào lịch sử. Một tài sản lấp lánh biết bao vẻ đẹp của một nhà văn hóa và nhà phê bình văn học tiêu biểu...". Đó là những nhận định trong bài viết của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Hoài Thanh (1909 - 2009). Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết này.

Nhắc đến Hoài Thanh, người ta nhắc đến một nhà văn hóa, nhà phê bình văn học có thẩm quyền. Sinh trưởng trong một gia đình nho học giàu truyền thống cách mạng, có kiến văn rộng rãi cả Đông và Tây, 19 tuổi Hoài Thanh tham gia Tân Việt đảng, một lần bị đuổi học, hai lần bị bắt vì các hoạt động yêu nước. Là một cây bút sắc sảo trên hầu hết các báo chí đương thời với các bài viết về hàng loạt các lĩnh vực văn chương, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa... Hoài Thanh có đủ tư cách để tuyên bố : “Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật; Tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình”. Nói theo cách nói của Lỗ Tấn “đi mãi sẽ thành đường” thì với thiên tư ấy, với loạt bài kia đã đủ hình thành một con đường riêng trong đoạn đầu đời của Hoài Thanh. Không lâu lắm, con đường ấy đã được cắm mốc với Văn chương và hành động, một tác phẩm có tính cách tuyên ngôn cho một văn phái do Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư là đồng tác giả. Trong Văn chương và hành động, các tác giả triển khai hàng loạt các vấn đề về văn chương, về nội dung và hình thức, thành thực và tự do, và đặc biệt là thiên chức nhà văn. Thật đáng kính trọng giữa một xã hội ngột ngạt và oi bức sau các cuộc đàn áp đẫm máu, các tác giả đã công khai lên tiếng tố cáo xã hội thực dân phong kiến với những cảnh khốn cùng của dân mình quyết liệt đến thế, để đi đến một kết luận: “Trước tình thế như vậy, vòng tay đứng nhìn là một tội ác”. Cuốn sách đã bị bọn thống trị thực dân cấm lưu hành vì tính chất phản kháng và tiến bộ của nó. Hoài Thanh cũng còn nổi danh trong cuộc tranh luận nghệ thuật đầy ấn tượng những năm 1935-1936. Khi tuyên bố “Văn chương trước hết là văn chương” và “trong văn chương cái quan trọng nhất là một chữ Tài”, Hoài Thanh đâu có thể ngờ 50 năm sau, Tố Hữu khẳng định “trong văn học cuối cùng là một chữ Hay” và 15 năm sau Tố Hữu, Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khẳng định: “Tài năng là vốn quý của dân tộc. Chăm sóc tài năng là trách nhiệm của Đảng và của toàn xã hội”. Hai cách tiếp cận không hoàn toàn giống nhau về nội hàm nhưng rất gần nhau về quan niệm. Cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh” diễn ra rất sôi nổi, có lúc quyết liệt, nhưng lại có một kết thúc có hậu. Các chủ soái của hai bên đều gặp nhau trên đại lộ của Cách mạng Tháng Tám.

Nếu lịch sử luôn luôn đúng thì mối duyên Hoài Thanh và Thơ mới là một chứng minh. Thơ mới cần Hoài Thanh và Hoài Thanh cần Thơ mới. Và trời đã thuận cho cả hai. Có biết bao nhiêu là đồng điệu và say đắm. Có giống nhau và khác nhau. Giống nhau là cả hai đều chịu ảnh hưởng các trào lưu tư tưởng và nghệ thuật từ bên ngoài. Khác nhau là Thơ mới chịu ảnh hưởng của trào lưu nghệ thuật đang bị thay thế, còn Hoài Thanh thì chịu ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng và nghệ thuật đang khai mở. Hoài Thanh đi vào cánh rừng Thơ mới ngây ngất mà rõ ràng, tinh tế mà vu quát, đến mức có thể nghe được tiếng động cựa của hồn chữ. Với sự tinh thông và chuẩn xác, ông kiểm kê toàn bộ khu rừng Thơ mới rồi chỉ rõ đây là lim, kia là táu, là vàng tâm và kia nữa là dổi là chò, sau đó ông độc hành lên một đỉnh núi cao hơn, dõng dạc tuyên bố : “có một thời đại trong thi ca”. Tôn vinh Thơ mới, xếp hạng Thơ mới, không ai bằng Hoài Thanh. Nhưng ông không đánh cược với Thơ mới. Do đó khi Thơ mới đã bị vượt qua còn Hoài Thanh tiếp tục tiến về phía trước. Có một thời đại trong thi ca đã đi vào quá khứ, và một thời đại thi ca mới đang sinh thành, một thời đại thi ca mà trong đó Hoài Thanh là một trong những kiến trúc sư.

Ngòi bút Hoài Thanh thật sự xuất thần và vô cùng hào sảng khi bàn về ca dao và Truyện Kiều, một thiên tài vô danh và một thiên tài hữu danh. Trước và sau Hoài Thanh nhiều người bàn về ca dao. Cái đặc sắc của Hoài Thanh là mở rộng không gian tham chiếu với sự tiếp xúc văn hóa giữa Đông và Tây mà bản thân ông là một tiêu biểu đáng kính. Biết mình biết người, từ cái hay của người mà soi rọi, để thấy cái đặc sắc của ta. Thí dụ sau đây là một trường hợp điển hình. Để khẳng định giá trị của câu hát phường vải:

Đôi ta xa nhau thiên hạ cũng đều buồn

Bốn phía trời đều chuyển động, tám ngọn nguồn rung rinh,

Hoài Thanh dẫn một câu của Lamartine “chỉ thiếu một người mà cả cõi đời trở nên trống rỗng” (Di bút)

Đối chiếu hai văn bản, chúng ta cảm thấy sự tương đồng kỳ lạ. Sự uyên bác của Hoài Thanh đem đến sức gợi mở to lớn cho người đọc về sự gặp gỡ giữa dân tộc và nhân loại.

Một ví dụ nhỏ để nói đến một xác tín lớn. Bài học và tấm gương Hoài Thanh ứng xử với văn hóa dân tộc. Với một nhân cách văn hóa như Hoài Thanh tưởng không có ai xứng đáng hơn ông để đảm nhiệm cương vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Dân gian Việt Nam.

Cũng một tình yêu như ca dao, suốt đời Hoài Thanh say mê với Truyện Kiều, bất cứ ở đâu khi có dịp là ông lại trở lại với Truyện Kiều. Trong đời đã có biết bao nhiêu người bàn về Truyện Kiều. Mỗi người mỗi cách, mỗi người có cái hay riêng. Nhưng ấn tượng nhất đối với tôi là Hoài Thanh, Vũ Hạnh và Lê Đình Kỵ, trong đó Hoài Thanh chiếm bảng đầu cả về độ lớn, chiều sâu và sự tinh tế. Trong Bản tự thuật, ông viết “Trên đà những chuyển biến sâu sắc trong Đông- Xuân 1947-1948 tôi tiếp tục đi vào bộ đội, đi theo một chiến dịch trên sông Đà. Nhờ vậy tôi đã viết được một số tác phẩm tốt nhất là quyển “Quyền sống con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949)” và quyển “Nói chuyện thơ kháng chiến (1951)”. Và ông còn cho biết thêm “Năm 1948 sau khi viết xong quyển sách nhỏ về Truyện Kiều, tôi có đưa anh Tố Hữu xem. Lúc bấy giờ chúng tôi cùng sống trong một xóm nhỏ trên bờ sông Thao. Xem xong, anh Tố Hữu chỉ nói vắn tắt: “Hay!”. Do đó tôi đã mạnh dạn đưa in. Sách in ra liền được báo Đảng - tờ Sự thật - giới thiệu và khen. Giá tôi không được gặp anh Tố Hữu mà lại gặp một cán bộ lãnh đạo có ý kiến khác hẳn về Truyện Kiều thì bước đường đi theo Đảng của tôi chắc đã gặp thêm khó khăn không ít” (Tôi nhấn mạnh T.S.)

Đi kháng chiến để viết về kháng chiến là chuyện dễ hiểu. Đi kháng chiến để viết về Truyện Kiều là một ngạc nhiên lý lẽ là ở đâu?. Suy nghĩ mãi, tôi tự giải thích cho mình như sau: Hóa ra để trở về quá khứ cũng cần có hơi ấm của hiện tại. Và cần hơn là tiên phong về tư tưởng và đứng vững trong lòng dân tộc. Đọc Hoài Thanh ta cảm thấy ngoài năng lượng của sách vở, nếu không có sự trải nghiệm đến khắc nghiệt trong đời không thể đạt đến sự giản dị và sâu sắc đến như thế.

Đời sống văn học hơn nửa thế kỷ qua là một bức tranh rộng lớn, phong phú và sôi động. Tác động có tính quyết định vào dòng chảy đó là tứ trụ cơ quan:

- Vụ Văn nghệ Ban Tuyên giáo Trung ương

- Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam

- Hội Nhà văn Việt Nam

- Viện Văn học

Hoài Thanh lần lượt tham gia lãnh đạo cả bốn cơ quan đó, và là chuyên gia hàng đầu cho Đảng và Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Ở Hội Nhà văn với tư cách là Ủy viên thường vụ, ông được trao trách nhiệm làm chủ nhiệm Tuần báo Văn nghệ trong nhiều năm. Ở Viện Văn học, ông là Phó Viện trưởng kiêm Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn học còn nhiều năm hơn. Nhà văn Nguyễn Đình Thi nhiều lần nói rằng, quyền lực thực tế trong văn học là các ông Tổng biên tập báo chí và các ông Giám đốc nhà xuất bản. Quyền lớn nhất của họ là ấn nút thông tin. Thực tế đã kiểm nghiệm, thời gian Hoài Thanh cầm quyền ấn nút thông tin hai cơ quan báo chí nói trên đều là một trong những thời hoàng kim của hai cơ quan ấy. Chúng ta lại được biết thêm một khía cạnh nữa của tài năng đa dạng Hoài Thanh.

Trước lúc mất ít lâu, Hoài Thanh tâm sự với con trai “Cha viết văn đã 20 năm nhưng công việc cha thích nhất là dạy học và bình thơ, ''bình thơ hay, vô luận của ai''. Với tầm nhìn xa rộng và với phẩm chất một nhà giáo và một nhà văn, Hoài Thanh dành rất nhiều tâm huyết cho việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ trong các công việc ở trường Đại học, ở Trường Viết văn Quảng Bá, ở Viện Văn học và Tuần báo Văn nghệ. Những bài viết của ông dành cho Lê Anh Xuân, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Duy, Cảnh Trà..., những bài phát biểu nhân tổng kết các cuộc thi thơ, trong thời kỳ chống Mỹ liền mạch với những bài về thơ bộ đội trong kháng chiến chống Pháp thể hiện rất rõ năng lực phát hiện và chăm sóc tài năng trẻ của ông.

Gánh vác một khối công việc bề bộn, với nhiều thiên chức trong một, Hoài Thanh bao quát sự vận động của gần một thế kỷ văn học, một thế kỷ với những thay đổi phi thường trong đó ông đã sống và viết một cách trung thực.

Viết và đi bình về thơ Bác, tác phẩm của Phạm Văn Đồng, thơ Tố Hữu, Thanh Hải, văn của Nguyễn Thi, Anh Đức, về những bức thư Từ tuyến đầu Tổ quốc, về nhiều nhà văn nước ngoài đồng thời trở lại với Chinh phụ ngâm, Phan Trần, Hoa tiên... ngòi bút Hoài Thanh như một dòng suối bất tận, nêu mẫu mực về một tấm gương hoạt động xã hội và văn chương không mệt mỏi.

Hoài Thanh sống trọn vẹn với thời đại của ông, hào hứng, vui buồn, dâng hiến. Đương nhiên, dẫu là một thiên tài thì việc phóng xa những tiên cảm về phía trước là có thể, nhưng đứng ra ngoài thời đại của mình là không thể. Di sản của Hoài Thanh là một khối đồ sộ những ký thác và tin tưởng, thật đáng tự hào. Tài sản của Hoài Thanh đã đi vào lịch sử. Một tài sản lấp lánh biết bao vẻ đẹp của một nhà văn hóa và nhà phê bình văn học tiêu biểu. Một trăm năm rồi nhiều trăm năm, Hoài Thanh tiếp tục so bước với tương lai./.

Hà Nội, 8/7/2009

Tin mới