Câu chuyện tình thân
Những chiều hành quân...
Cô Nguyệt Anh và tấm ảnh thời son trẻ. Ảnh: H.T
Năm ấy, trong không khí ấm áp, yên bình, tướng quân kể về mối tình lớn nhất của đời mình. Nhơn duyên của ông như một định mệnh. Năm 1949, tiểu đoàn 307 của ông Tiên hành quân về Trà Vinh đánh trận Cầu Kè thì Nguyệt Anh là thường vụ hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh. Mối quan hệ giữa bộ đội và phụ nữ thời ấy rất mật thiết. Trước khi chuyển quân về Đồng Tháp Mười, ông Tiên đại diện đơn vị đến chia tay hội Phụ nữ. Các chị ý tứ đưa Nguyệt Anh tiếp ông rồi lặng lẽ rút lui. Biết nhau từ lâu nhưng đây là lần đầu tiên họ mới có dịp trò chuyện với nhau. Cả hai không khỏi lúng túng ngỡ ngàng. Nhìn vết đạn ngày hôm trước do địch càn quét xã Long Vĩnh còn in dấu hai lỗ cháy trên ngực áo người lính trẻ tuổi, Nguyệt Anh thốt lên câu hỏi: “Sao áo anh lủng vậy?”. Ông giải thích. Niềm thương cảm chợt dâng lên tràn ngập trong lòng cô. Ngay lúc ấy, cô hiểu, chọn một người lính làm bạn đời cũng có nghĩa là sẵn sàng đối mặt với chia ly, mất mát. Nhưng tình yêu lẫn lòng kính phục đã khiến cô không ngần ngại. Hôn lễ của họ được tổ chức tại trường Đảng Trung ương Cục miền Nam. Sau những ngày “trăng mật” ngắn ngủi, họ trở về với nhiệm vụ của mình. Thời gian đôi vợ chồng trẻ được sống bên nhau thật hiếm hoi. Ông Tiên cười ha hả: “Đồng bào Nam bộ mình hồi đó có lẽ vì quá thương bộ đội nên rất thoải mái. Hồi mới cưới, từ trường Đảng tôi đưa Nguyệt Anh về ra mắt đơn vị. Trời sụp tối, lỡ đường, chúng tôi phải tìm chỗ ngủ, gõ đại cửa một ngôi nhà. Một ông già chạy ra xởi lởi: “Chú là bộ đội hả, vô đây, vô đây!” Tôi rụt rè: “Dạ, còn vợ cháu nữa…” Ông già cười lớn: “Vậy hả, có sao đâu”. Rồi ông gọi lớn ra sau nhà: “Con Út đâu, trải chiếu bộ ván giữa cho anh chị mày ngủ”.
Cô Nguyệt Anh kể: “Những năm kháng chiến, cơ quan phụ nữ của cô cũng đóng trong nhà dân. Mỗi khi anh Tiên tạt về thăm, cô năn nỉ anh đợi sáng hãy đi. Cô sợ tiễn chồng đi lúc hoàng hôn, ôm con đứng trên bờ nhìn anh ấy chèo xuồng đi mất hút. Ôm con thui thủi trong buồng, đèn thì tù mù, bìm bịp, ếch nhái kêu buồn đứt ruột. Lớp lo cho chồng không biết đi đánh giặc “hòn tên mũi đạn” ra sao, lớp thương mình, thương con mà nước mắt chảy tràn. Khổ nỗi, anh Tiên lại hay hành quân vào buổi chiều. Cô sợ những giây phút làm lòng mình yếu đuối, ủy mị. Chia tay chồng buổi sáng đỡ hơn, bởi lúc đó nào phải lo gởi con, phải lao vào công việc không có thời gian để buồn…”
Rồi đình chiến, đất nước lại đứng trước cuộc chiến tranh chia cắt. Cô Nguyệt Anh bồng con xuống tàu tập kết ra Bắc. Ông Tiên lo chuyển quân rời miền Nam trong chuyến cuối cùng. Mới ra miền Bắc, cô phải cắn răng gởi con lại Hà Nội, lao vào đợt công tác đặc biệt về các tỉnh Hải Dương, Hòa Bình. Cô đã chịu đựng những gian khổ, thử thách mà đôi lúc, cô tưởng mình không đủ sức lực để vượt qua, trong đó, có nỗi nhớ thương con dày vò. Ông Tiên vẫn tiếp tục cuộc đời người lính. Hơn một năm rưỡi vợ chồng xa cách, từ Hải Dương, cô vội vã trở về Hà Hội tiễn ông Tiên đi học khóa đào tạo sĩ quan chỉ huy không quân ở Trung Quốc. Đêm hạnh phúc trong đoàn tụ ấy trộn lẫn với buồn tủi khi đứa con thân yêu không nhận ra cô. Những năm ấy tiền trợ cấp của chồng chưa kịp gửi về, một mình cô phải chống đỡ cuộc sống. Cô như trải qua một giấc mơ khi nhớ lại những ngày ấy: “Hồi đó thiệt là nghèo xơ xác cháu à. Cô có chiếc áo vải gabardin mẹ cho lúc tập kết mang theo, vậy mà cũng phải đem bán nuôi con. Trời mùa đông lạnh, cô mặc chiếc áo bộ đội chú để lại. Sau đêm đó, ông Tiên cũng không nghĩ là cô có mang. Đêm chuyển dạ, cô gửi đứa con nhỏ cho bà giữ trẻ rồi vào bệnh viện sinh một mình”. “Cô có cảm giác gì khi sinh con không có chồng bên cạnh?” “Buồn tủi lắm. Nhưng anh Tiên đang đi làm nhiệm vụ vì dân vì nước mà”. Cô đã từng lau nước mắt, cố dẹp bỏ con người nhi nữ thường tình. Và cũng thật kỳ lạ, khi ý thức điều đó cô trở nên thật cứng cỏi. Nhiều đêm, các con nằm một bên đã ngủ say, cô ngồi dậy viết thư cho chồng, nuốt lại mọi khó khăn và cay đắng. Trong thư cô luôn nói cả nhà đều khỏe, để chồng yên tâm công tác. Mùa đông ngoài Bắc lạnh lắm, cô đi học về nhà đã hơn 10 giờ đêm, loay hoay giặt giũ, lau nhà, ôn bài, 1 giờ khuya mới đặt lưng xuống giường. Vài tiếng sau cô đã thức dậy nấu cháo cho con. Cuộc sống thiếu thốn trăm bề, nuôi con khổ lắm, không có sữa cháu bé bị suy dinh dưỡng, may, chú gửi về gói bột nho… Nhiều bữa cơm không có thịt cá, nhìn con thèm bát phở mà nước mắt chảy ròng ròng…”
“Thuốc nào chữa bệnh buồn?”
Vợ chồng tướng Tiên trong những ngày sum họp ở miền Bắc (ảnh chụp năm 1955)
Thời tướng Tiên còn sống, một lần đến nhà thăm hai vợ chồng, cô Nguyệt Anh nhắc lại một kỷ niệm thời bao cấp: “Anh còn nhớ những năm tháng khó khăn không, con heo đang phởn phơ bỗng bỏ ăn, người tím bầm. Em đang ở nhạc viện hay tin, vội chạy về ủ ấm rồi nấu cháo đậu xanh với đường cho nó ăn, vậy mà khỏi. Có lần dọn chuồng, con heo thì to, em thì nhỏ, nó hất em một cái… may mà em không sao hết”. Ông bà Tiên cùng cười lên, thật hồn nhiên, sảng khoái.
Sau khi đã dành hết tâm lực cho quân đội, tướng Tiên trở về với cuộc đời thường đầy thanh thản. Ngôi nhà ông năm ấy ríu rít tiếng chim, ấm áp tiếng cười đùa đàn cháu trẻ thơ, thơm ngát hương hoa và trẻ mãi Nguyệt Anh, người bạn đời đã từng chia sẻ cùng ông gần nửa thế kỷ đời người triền miên trong hai cuộc trường chinh giữ nước. Ông ra đi đã bảy năm nhưng lòng bà không nguôi thương nhớ. Bà rất khó chấp nhận sự thật rằng đã không còn ông trên dương thế. Bà nhiều đêm mất ngủ vì sự trống vắng sâu thăm thẳm. Bà gầy ốm, héo hắt vì nhớ thương. Khi đi khám bệnh, bà hỏi bác sĩ: “Có thuốc nào chữa bệnh buồn không?” Vị bác sĩ lặng đi. Khi gặp tôi, bà nói: “Khi chú mất, cô càng đồng cảm nỗi đau của những người vợ góa bụa trong chiến tranh. Những người phụ nữ ấy đã héo hắt cả một đời. Đã vậy, họ còn đối mặt với bao nỗi đau khác!” Bảy năm ngày tướng Tiên đi xa, ngày giỗ ông là ngày bà khuây khỏa nhất. Bà chăm chút từng món ăn, ân cần gọi từng người quen đến dự. Bà vui vì qua những người thân thương ấy, bà nhìn thấy bóng dáng của tướng quân lúc sinh thời. Bà tin nơi thế giới bên kia, tướng quân sẽ rất vui…
Trầm Hương
