(Toquoc)- Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế lan rộng trên phạm vi toàn thế giới, hầu hết Chính phủ các nước tập trung sử dụng công cụ chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm giảm tiết kiệm, tăng đầu tư, tăng chi tiêu và kết hợp với chính sách tài khóa linh hoạt thông qua các gói kích cầu kinh tế. Đây cũng là cách vực dậy sự phục hồi đối với một số nền kinh tế lớn.
Linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ
Thị trường tài chính Việt Nam ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính so với các nước khác trong khu vực do các tổ chức tài chính trong nước chưa hội nhập sâu hệ thống tài chính thế giới. Các tổ chức trong nước chưa nắm giữ nhiều chứng khoán nước ngoài, đặc biệt các chứng khoán có tài sản gốc là bất động sản. Tuy nhiên, kinh tế nước ta cũng chịu ảnh hưởng do tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào hoạt động xuất khẩu và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Trước tình thế trên, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cùng các bộ, ngành đã có nhiều biện pháp can thiệp, ổn định thị trường và giảm thiểu tác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính sách tiền tệ được điều chỉnh linh hoạt kết hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác đã mang lại hiệu quả đáng kể. Về cơ bản, chính sách tiền tệ áp dụng đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát leo thang và chống suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, nhằm nâng cao hiệu quả thực thi, việc đánh giá thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ và sự phối hợp với chính sách tài khóa là rất cần thiết.
Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại chịu sự tác động rõ rệt nhất bởi chính sách tiền tệ của NHNN. Khi NHNN thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, chi phí huy động vốn của ngân hàng tăng cao buộc ngân hàng phải nâng lãi suất đầu ra để đảm bảo khả năng sinh lợi. Thực tế, vào thời điểm tháng 3 và 4/2008, việc huy động vốn từ tổ chức kinh tế, dân cư gặp rất nhiều khó khăn, nhất là sau khi NHNN yêu cầu mua tín phiếu bắt buộc, nhiều ngân hàng chạy đua tăng lãi xuất và vay vốn trên thị trường liên ngân hàng để chống đỡ với nguy cơ mất khả năng thanh khoản.
Từ tháng 10/2008 đến nay, chính sách của Chính phủ nghiêng về hướng nới lỏng hơn về tiền tệ nhằm thúc đẩy cho gói kích thích kinh tế. Việc duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7% khiến lãi suất cho vay của các ngân hàng bị giới hạn trần ở mức 10,5%. Tuy nhiên, gần đây nhiều ngân hàng đã nâng mức lãi suất huy động tới gần mức cho vay. Điều đó cho thấy áp lực huy động vốn của các ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu giải ngân là khá lớn, tuy chưa đến mức đáng lo ngại như cùng kỳ năm trước.
Lạm phát đã tạm thời được kiểm soát, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đều theo hướng nới lỏng nhằm đối phó với những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ nới lỏng của hai chính sách dường như vẫn còn khoảng cách. Với mức bội chi ngân sách có thể lên trên mức điều chỉnh tăng của Chính phủ (8%), chính sách tài khóa gần như đã phát huy hết tác dụng, trong khi lãi suất cơ bản mới được giảm tới mức 7%, vẫn còn biên độ để NHNN có thể thực thi chính sách của mình.
Nâng cao hiệu quả đầu tư công
Kinh tế thế giới mặc dù còn rất nhiều khó khăn nhưng đã xuất hiện một số dấu hiệu cho thấy kinh tế đang chạm đáy và có thể dần hồi phục trong nửa đầu năm 2010. Sự ổn định dần của thị trường chứng khoán toàn cầu nói riêng và hệ thống tài chính thế giới nói chung càng tăng thêm niềm tin về sự sớm phục hồi của kinh tế thế giới. Cuộc họp của nhóm các nước kinh tế phát triển gần đây đều thống nhất nhận định thời kỳ tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng đã qua khi tốc độ đi xuống của kinh tế toàn cầu đã chậm lại. Tuy nhiên, các nước này đều cho rằng cần tiếp tục duy trì chính sách tăng trưởng và không nên cắt giảm kế hoạch kích thích kinh tế chống khủng hoảng bởi kinh tế toàn cầu chưa hồi phục.
Kinh tế Việt Nam 8 tháng đầu năm vẫn còn nhiều khó khăn nhưng đã có những chuyển biến tích cực. Sự gia tăng trở lại của tốc độ sản xuất công nghiệp, xây dựng, dịch vụ... những tháng qua cho thấy sức sản xuất đã được hồi phục, nền kinh tế có thể coi là đã qua khỏi “điều tồi tệ nhất” và khả năng đạt được tăng trưởng trên 5%. Vì thế, mục tiêu, nhiệm vụ trong năm 2009 mà Chính phủ đề ra vẫn là ngăn chặn suy giảm kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Từ các bài học và thực tiễn chính sách của các quốc gia khác, chúng tôi nhận thấy chính sách tiền tệ trong thời gian tới cần điều hành theo hướng nới lỏng một cách thận trọng. Nếu nới lỏng tiền tệ quá nhanh có thể dẫn đến lạm phát trong tương lai, đặc biệt khi các yếu tố tiềm ẩn có thể làm gia tăng lạm phát vẫn còn hiện hữu như hiệu quả đầu tư, năng suất lao động thấp, việc tăng giá điện, nước... Cần tiếp tục giảm lãi suất để khuyến khích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chống suy thoái trên diện rộng. Thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích đối với cho vay chứng khoán và bất động sản để kích hoạt nền kinh tế. NHNN tiếp tục kết hợp hài hòa, linh hoạt giữa điều hành tỷ giá và lãi suất, sử dụng thích hợp các công cụ dự trữ bắt buộc, tín phiếu, thị trường mở... trong từng giai đoạn cụ thể; tăng cường phối hợp giữa các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.
Để giảm thất thoát, lãng phí nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công, Chính phủ cần tập trung điều chỉnh, ưu tiên cho các dự án trong nước, cơ cấu lại chương trình dầu tư công theo hướng giãn tiến độ các dự án sử dụng nhiều vốn, ưu tiên các dự án sử dụng nhiều lao động, ít nhập khẩu, khuyến khích sản xuất trong nước, xuất khẩu. Đầu tư công của Chính phủ cần được cơ quan có thẩm quyền rà soát một cách thận trọng; cần được thẩm định bởi cơ quan thẩm định đầu tư độc lập thuộc Chính phủ và công khai tới người dân để đảm bảo tính hiệu quả, khả thi của dự án. Cơ cấu lại đầu tư công theo hướng nâng tỷ lệ đầu tư nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn, các lĩnh vực giáo dục, y tế, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ; thiết lập cơ chế hợp tác “công - tư” trong đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật theo cơ chế thị trường.
Để ổn định đời sống người dân, Chính phủ cần đảm bảo các dịch vụ công cộng như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, tai nạn nghề nghiệp... nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của người dân. Đây là biện pháp có tính dài hạn, làm nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời kích thích tiêu dùng nội địa, giảm sự phụ thuộc thị trường bên ngoài. Chính phủ cần nghiên cứu, thiết lập cơ quan chuyên trách thực hiện quyền sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, áp dụng nguyên tắc quản trị công ty theo thông lệ quốc tế tại các doanh nghiệp nhà nước./
