Kỳ cuối: ĐIỆP KHÚC “DƯỚI XỬ TRÊN HỦY” RỒI ĐÌNH CHỈ
(CATP) Từ khi ông Trang Văn Minh khởi kiện đến nay đã hơn chín năm, vụ tranh chấp đã có 8 bản án kèm theo hàng chục văn bản trả lời của ba cấp tòa! Điệp khúc “sơ thẩm xử, phúc thẩm hủy” khiến ông Minh chạy theo mệt nghỉ! Đến khi không còn gì để “bắt bẻ”, thì “quan” tòa phúc thẩm bất ngờ “đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp” và tuyên cho bị đơn Thạch Thị Sary thắng “tuyệt đối”…
PHÁN QUYẾT ĐÌNH CHỈ ĐỂ “CỨU” CÁN BỘ SAI PHẠM?
Như chúng tôi đã phản ánh trong hai số báo trước, vụ tranh chấp đã được UBND thị trấn An Lạc chuyển sang TAND huyện Bình Chánh (HBC) giải quyết từ tháng 2-2001. Ông Minh cũng làm đơn khởi kiện. Ngày 12-12-2001 thẩm phán thụ lý ra QĐ số 41/TĐC tạm đình chỉ vụ án. Ngày 25-9-2002, TANDTP tuyên hủy QĐ 41/TĐC; giữ hồ sơ vụ án tại TANDTP để giải quyết lại. Ngày 14-4-2004, cóá QĐ số 33/TĐC-DSST, tạm đình chỉ vụ án. Ông Minh lại kháng cáo. Ngày 29-10-2004, TAND tối cao bác QĐ số 33/TĐC-DSST, giao vụ án cho TAND TPHCM tiếp tục giải quyết.
Sau khi báo CATP phanh phui tiêu cực, Thanh tra TP vào cuộc làm rõ. Tháng 9-2006 TANDTP đưa vụ án ra xét xử. Bản án số 1015/2006/DSST ngày 20-9-2006 tuyên: toàn bộ nhà đất 171 KDV của ông Trang Văn Minh, bà Sary chỉ là người đứng tên giùm; hợp đồng chuyển nhượng khu đất giữa bà Sary với Liên Diệp bị vô hiệu. Bản án phúc thẩm số 108/2007/DS-PT ngày 6-4-2007 do thẩm phán Quảng Đức Tuyên ngồi ghế chủ tọa, tuyên: hủy toàn bộ án sơ thẩm.
Sau thời gian thu thập đầy đủ các chứng cứ để bổ sung những “thiếu sót” mà án phúc thẩm đã chỉ ra, vụ án được TANDTP đưa ra xét xử lại vào ngày 13-8-2008. Bản án 1240/2008/DS-ST ngày 18-8-2008, tuyên: công nhận toàn bộ nhà và đất 171 KDV diện tích 1.510m2 của ông Trang Văn Minh; vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng 1.225m2 đất (thuôc khu đất 1.510m2) giữa bà Sary và bà Liên Diệp đồng thời buộc bà Sary hoàn trả cho bà Liên Diệp 700 lượng vàng và hơn 3,1 tỷ đồng do bị thiệt hại từ việc chuyển nhượng đất trái pháp luật. Bị đơn Sary phải nộp trên 50 triệu đồng án phí. Phán quyết của tòa hoàn toàn phù hợp với kết luận của Ủy ban kiểm tra Thành ủy và Thanh tra TP.
Thật bất ngờ, bản án 118/DS-PT ngày 28-4-2009 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM với HĐXX gồm ba thẩm phán, do ông Ngô Anh Dũng ngồi ghế chủ tọa, tuyên: Không chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của ông Trang Văn Minh. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Sary: hủy bản án sơ thẩm 1240/DS-ST ngày 18-8-2008 của TAND TPHCM. Đình chỉ việc giải quyết tranh chấp 1.512,92m2 đất tại 171 KDV. Buộc ông Minh trả cho bà Sary 292,61 triệu đồng do Nhà nước bồi thường khi giải tỏa đường KDV. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 1.225m2 giữa bà Sary với bà Liên Diệp. Ông Minh phải chịu 50,059 triệu đồng án phí...
Bản án này vô hình chung đã “hợp thức hóa” toàn bộ sai phạm của 9 cán bộ và hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của bà Sary cùng một số đối tượng liên quan trong đó có “cò” khiếu kiện Nguyễn Văn Vốn đã được làm rõ.
KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN!
Văn bản kiến nghị 280/UBND-PCNC ngày 21-1-2010 của UBND TPHCM đã chỉ ra nhiều bất thường thể hiện rõ trong bản án 118/DS-PT, cụ thể:
Thứ nhất, HĐXX căn cứ giấy phép số 777/GP-UB ngày 15-11-1989 của UBND HBC để công nhận việc mua bán nhà 43,08 và chuyển nhượng 1.512,92m2 tại số 171KDV giữa bà Sary với vợ chồng ông Đặng Văn Năm; từ đó bác yêu cầu khởi kiện của ông Trang Văn Minh.
UBNDTP khẳng định: Nội dung này không đúng và không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án bởi bà Sary không phải là chủ tài sản đích thực mà chỉ là người đứng tên giùm ông Minh, thể hiện qua nhiều tài liệu, chứng cứ như hợp đồng giao ước, đơn xác nhân, tờ cam kết cùng đề ngày 20-12-1989; giấy xác nhận đề ngày 10-12-1998... Tất cả đều có chữ ký và dấu vân tay của bà Sary, với nội dung xác nhận, cam kết: ông Minh là người bỏ tiền mua nhà đất; do vợ chồng ông Minh xích mích, bất hòa, ly thân nên bà đứng tên thay trong giấy tờ mua bán, sau này chuyển thủ tục lại cho các con ông Minh vô điều kiện...
Thứ hai, theo HĐXX vụ tranh chấp nhà gắn liền với đất tại số 171 KDV được tách chia làm hai phần: phần tài sản gắn liền với đất và số tiền đền bù mở rộng đường KDV thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án; phần đất trống 1.512,92m2 chưa được cơ quan Nhà nước cấp thẩm quyền cấp sổ đỏ nên khi có tranh chấp thì UBND HBC giải quyết là đúng quy định.
UBND TPHCM chứng minh lập luận của HĐXX phúc thẩm là không phù hợp với quy định pháp luật. Nhà và đất tại số 171 KDV trên cùng một thửa số 01, tờ bản đồ số 3, Bộ địa chính thị trấn AL nên khi xảy ra tranh chấp thì thẩm quyền giải quyết thuộc tòa án. Điều này đã được quy định rõ tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003; Thông tư liên tịch số 02/TTLT ngày 28-7-1997 và số 01/2002/TTLT ngày 3-1-2002 của TAND tối cao - Viện KSND tối cao - Tổng cục Địa chính. Trên thực tế vụ tranh chấp nhà gắn liền với đất đã được tòa án ba cấp (HBC, TPHCM, tối cao) thụ lý xuyên suốt từ năm 2001 đến khi có bản án 118/DS-PT.
Thứ ba, HĐXX cho rằng việc tranh chấp 1.512,92m2 đất đã được UBND HBC giải quyết bằng hai QĐ hành chính số 1213/QĐ-UB ngày 17-4-2002 và QĐ số 2670/QĐ-UB ngày 18-9-2002 đã có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào hai QĐ này ngày 11-11-2002 UBND HBC ban hành QĐ 2900/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận (sổ đỏ). Đến ngày 11-11-2003 bà Sary đươc cấp sổ đỏ số 1012/QSDĐ với diện tích 1.225m2. Theo nhận định của HĐXX, QĐ 2900/QĐ-UB không phải là QĐ giải quyết khiếu nại nên khi bị thu hồi hủy bỏ cũng không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết của UBND HBC. Hai QĐ số 1213/QĐ-UB và QĐ số 2670/QĐ-UB vẫn còn nguyên hiệu lực pháp luật.
UBNDTP khẳng định: QĐ số 1213/QĐ-UB và QĐ số 2670/QĐ-UB của UBND HBC là hai QĐ hành chính trái pháp luật, không đúng thẩm quyền nên về bản chất đã mất giá trị thực hiện. Hơn nữa, hai QĐ này là bộ phận cấu thành chủ yếu, cơ bản của QĐ 2900/QĐ-UB ngày 11-11-2002 (thực chất năm 2003 mới đúng). Về nguyên tắc khi QĐ 2900/QĐ-UB bị thu hồi, hủy bỏ thì cả hai QĐ trên tự mất hiệu lực pháp luật. Lập luận của HĐXX là không hợp lôgíc và không thuyết phục. Mặt khác, vào ngày 16-12-2009 UBND quận Bình Tân đã ban hành QĐ 14941/QĐ-UBND thu hồi hủy bỏ cả hai QĐ 1213 và 2670 vì ban hành sai thẩm quyền theo quy định pháp luật. Cả chín cán bộ liên quan đến hai quyết định này đêìù thừa nhận sai phạm và đã bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc.
Căn cứ các quy định pháp luật hiện hành, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ vững chắc có trong hồ sơ vụ án kèm theo hai kết luận của Ủy ban Kiểm tra Thành ủy và Thanh tra TP, UBND TPHCM kiến nghị Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng Viện KSND tối cao xem xét kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 118/DS-PT ngày 28-4-2009 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM, theo hướng công nhận bản án sơ thẩm số 1240/2008/DS-ST ngày 18-8-2008 của TAND TPHCM. Trước đó, ngày 23-10-2009 UB Tư pháp của Quốc hội có văn bản gởi Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng Viện KSND tối cao đề nghị làm rõ.