Thống đốc Nguyễn Văn Giàu là thành viên Chính phủ đầu tiên đăng đàn. 3 nhóm vấn đề: trách nhiệm của Thống đốc và ngành Ngân hàng trong việc hỗ trợ lãi suất, điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, thị trường ngoại hối đã “hút” tới hàng chục lượt chất vấn và tái chất vấn với Thống đốc trong thời gian chất vấn kéo dài suốt từ buổi sáng sang đến đầu giờ chiều.
Việc điều hành lãi suất thời gian qua là thích hợp
Đánh giá về điều hành lãi suất trong điều kiện đảm bảo và phát triển kinh tế, kinh doanh và ngăn chặn lạm phát cao, Thống đốc cho biết, trong thời kỳ lạm phát cao, chúng ta đưa lãi suất cơ bản lên 14% để các tổ chức tín dụng huy động được nhiều vốn để thu hút tiền về thật nhanh, đồng thời cũng hạn chế được tín dụng không cần thiết và đến tháng 2 năm nay chúng ta giữ ổn định mức lãi suất cơ bản là 7%, còn lãi suất cho vay được khống chế cao nhất là 10,5%.
“Theo chúng tôi trong 10 tháng qua, với tình hình khó khăn như thế thì chúng ta điều hành lãi suất này tương đối thích hợp. Bởi lẽ chúng ta cũng huy động vốn tăng 25% và cũng tăng trưởng được dư nợ 33%. Điều này cũng phù hợp với thị trường, cũng đảm bảo góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát CPI ở mức thấp, dự kiến năm nay có khả năng là 6%”, Thống đốc nói.
Trước các chất vấn của đại biểu về việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng, Thống đốc nói: “Việc kiểm soát 30, 33 hay 34, chúng tôi thật ra không phải không dùng biện pháp hành chính. Đối với ngân hàng thương mại Nhà nước với vai trò chủ đạo thì chúng tôi có chỉ đạo, còn đối với các ngân hàng còn lại thì họ tự vận động. Nhưng giữa cung, cầu vốn, đặc biệt là nguồn huy động giảm hết, nếu tháng 4, tháng 5, tháng 6 huy động được bình quân khoảng 3%/tháng thì thấy đến nay chỉ hơn 1%/tháng, khả năng huy động vốn của xã hội thấp dần thì khả năng tăng trưởng tín dụng chậm đi”, Thống đốc trả lời.
Dư nợ quốc gia của chúng ta đang cao
Báo cáo về công tác quản lý Nhà nước về thị trường ngoại hối, theo Thống đốc, từ năm 2007 đến nay, thị trường ngoại hối trong nước diễn biến rất phức tạp và chịu tác động từ nhiều nguyên nhân, trong đó có việc tăng nhập siêu, các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam giảm do suy thoái kinh tế, hiện tượng rút vốn FII, việc tăng đầu tư và tăng trưởng tín dụng lên mức hơn 30% hiện nay giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng, nhưng lại gây sức ép rất mãnh liệt lên thị trường ngoại hối…
Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện nhiều giải pháp chưa bao giờ thực hiện như nâng tỷ giá liên ngân hàng vào cuối tháng 12 năm 2008 là 3%, đến cuối tháng 3/2009 nâng biên độ từ 3 lên 5%, khiến đồng tiền Việt Nam mất giá trên 5%.
Nhận xét của đại biểu Lê Thị Nga - Thái Nguyên về việc đồng Việt Nam thời gian qua bị mất giá được Thống đốc đồng tình.
“Mục tiêu của ngành ngân hàng theo đuổi là nhằm ổn định giá trị đồng tiền, muốn đạt được mục tiêu này đòi hỏi thêm các yếu tố khác, đặc biệt là cơ cấu và hiệu quả của nền kinh tế của chúng ta. Tôi xin báo cáo chung nhất đây là mục tiêu chúng ta hướng tới nhưng trên nền tảng nền kinh tế của chúng ta. Trong thời gian tới khi chúng ta thị trường hóa giá xăng dầu, than hay tiền lương v.v... thì cũng sẽ tác động vào sự điều hành, đặc biệt trong đó có chính sách tỷ giá như đại biểu đề cập. Chúng tôi sẽ cùng với các bộ, ngành tiếp thu xây dựng các phương án để chúng ta điều hành một cách tốt nhất”, Thống đốc hứa.
Tiếp tục với chất vấn của đại biểu Phạm Thị Loan về vấn đề quản lý ngoại hối, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết, do cơ cấu nền kinh tế của chúng ta hơn 20 năm qua vẫn là một nước nhập siêu, năm qua lại phải đối mặt với nhiều khó khăn về giảm xuất khẩu, giảm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giảm chuyển tiền kiều hối, giảm nhân lực nên ngoại tệ tiếp tục có những khó khăn mới. Ngoài ra, trong điều hành chính sách vĩ mô, để đạt được mục tiêu lớn hơn là ngăn chặn suy giảm và duy trì phát triển sản xuất thì phải nới lỏng chính sách tiền tệ.
“Thực sự chúng tôi cũng cố gắng và chia sẻ những khó khăn, còn hỏi giải pháp nào thì thực sự giải pháp nhanh nhất là thắt chặt các chính sách, thì lượng cung tiền tín dụng không tăng, chính sách tài khóa không tăng, nhu cầu nhập khẩu không tăng… Nhưng bài toán này mâu thuẫn với bài toán đạt 5% kinh tế tăng trưởng, 5,2% tăng trưởng hay 6,5% tăng trưởng…”, Thống đốc chia sẻ.
Thống đốc cũng nói rõ thêm, về mục tiêu định giá trị đồng tiền, Quốc hội hàng năm có ra nghị quyết và Chính phủ cũng đã cố gắng để thực hiện. Do nền kinh tế của Việt Nam chưa thể kiểm soát lạm phát ở mức 1-2% như các nước đang phát triển ổn định nên cũng phải làm từng bước.
“Nhưng nếu không có đột biến lạm phát như năm 2008 thì các năm tôi thấy các chỉ tiêu về kiểm soát CPI Chính phủ điều hành đều đạt”, Thống đốc khẳng định.
Thống đốc cũng cho rằng, nếu tiếp tục phá giá đồng tiền Việt Nam, vừa điều hành linh hoạt tỷ giá thì nước ta sẽ phải đối mặt với những nguy cơ khác.
“Tôi nói ví dụ nguy cơ đầu tiên là nợ quốc gia bằng ngoại tệ của chúng ta hiện nay là rất lớn chứ không còn nhỏ bé như những năm trước. Nguy cơ thứ hai cho các doanh nghiệp là nợ ngoại tệ của doanh nghiệp hiện nay cũng không phải là nhỏ, tôi không nói phần nợ bằng ngoại tệ nước ngoài chỉ trong nước nợ bằng ngoại tệ đã lên đến 17 tỷ đôla”, Thống đốc cho biết.
Về nợ xấu theo chất vấn của đại biểu Vũ Quang Hải-Hưng Yên, Thống đốc cho biết, đến giờ phút này, nợ xấu chiếm trong tổng dư nợ chỉ có 2,34% so với đầu năm, tức là cuối năm 2008 có tăng lên 0,17%. Tỷ lệ này theo Thống đốc là khá an toàn.
Lo lắng của đại biểu Trần Du Lịch về dư nợ tín dụng 8 đồng tăng mới được 1 đồng GDP, Thống đốc cho biết, năm 2009, bước đầu Ngân hàng xây dựng cũng dưới 4 lần, nhưng so với tình hình suy giảm thì Chính phủ bàn đi bàn lại quyết định tăng quỹ tín dụng 6 lần GDP, tức là tăng khoảng 30% trong khi GDP mục tiêu của chúng ta là 5%.
“Vừa rồi có nhiều ý kiến cho rằng tăng tín dụng mãi không sao đâu, chúng tôi nghiên cứu vấn đề này chúng tôi thấy việc mà tăng cao là chúng ta cũng phải có giám sát rất chặt chẽ, thì đây cũng nói rồi là một việc hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh”, Thống đốc nói.
Gói hỗ trợ lãi suất
Đây là quan tâm của các đại biểu Danh Út - Kiên Giang, Trần Hồng Sơn-Hà Nội… Các câu hỏi đều nêu nhận xét, các quy định hiện nay của Chính phủ khiến nông dân khó tiếp cận nguồn vốn này, thủ tục, điều kiện khó nhưng số tiền được vay lại nhỏ...
Báo cáo trước các đại biểu Quốc hội về triển khai gói kích cầu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết, để triển khai cơ chế hỗ trợ lãi suất, Chính phủ có Nghị quyết số 30 ngày 11/12/2008, đề ra 5 nhóm giải pháp lớn. Trên cơ sở đó, đã có Quyết định số 131 hỗ trợ lãi suất đối với doanh nghiệp và cá nhân, Quyết định 497 hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp nông thôn, Quyết định 579 quyết định hỗ trợ lãi suất đối với đối tượng nghèo và hộ chính sách.
Qua kiểm tra, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện cho thấy, hỗ trợ lãi suất là một trong những giải pháp kích thích kinh tế tối ưu được lựa chọn với chi phí thấp, phù hợp với điều kiện nước ta, có hiệu quả tác động rất tích cực, đạt được mục tiêu là giúp nhiều doanh nghiệp và hộ sản xuất giảm chi phí theo hướng giảm giá thành sản phẩm, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ngăn chặn suy giảm kinh tế... Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thì cũng bộc lộ một số mặt còn tồn tại như: một số quy định liên quan đến việc thực hiện cơ chế cho vay, hỗ trợ lãi suất trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo Quyết định 497 triển khai chậm và những vướng mắc xử lý chưa có hiệu quả cao; cơ chế hỗ trợ lãi suất được triển khai vay ngắn hạn trong phạm vi cả nước, đối tượng hưởng thụ rộng gây khó khăn cho công tác thanh tra, giám sát của các Bộ, ngành, làm phát sinh công việc rất lớn và cũng tăng chi phí cho ngân hàng thương mại; mức lãi suất sau khi hỗ trợ lãi suất tương đương với lãi suất cho vay bằng vốn vay này và thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn hiện nay đã tác động làm tăng lãi tín dụng ở mức cao, gây sức ép tăng lãi suất, tăng tỷ giá, có thể phát sinh hiện tượng lợi dụng cơ chế để trục lợi; không phải tất cả các đối tượng vay vốn đều được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất, nên quá trình triển khai thực hiện phát sinh vướng mắc, kiến nghị, khiếu nại; đối tượng hỗ trợ lãi suất thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế nếu kéo dài sẽ phát sinh tâm lý ỷ lại…
Việc có nhiều ý kiến phản ánh là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nông dân khó tiếp cận vay vốn hỗ trợ lãi suất, Thống đốc cho rằng, có nhiều nguyên nhân, có thể là những doanh nghiệp này có nợ quá hạn chưa đủ điều kiện, năng lực tài chính chưa tốt, chưa có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, khả thi... Nhưng Chính phủ cũng mở ra một cơ chế là ban hành Quyết định 14 để giao cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện cơ chế bảo lãnh để nếu trong trường hợp vướng mắc ở các Ngân hàng thương mại thì có thể tiếp cận thông qua bảo lãnh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Lý giải về số DN tiếp cận nguồn vốn kích cầu không cao, Thống đốc cho biết, chính sách hỗ trợ của Chính phủ chỉ chọn lựa một số đối tượng đặc biệt là đối tượng sản xuất, xuất khẩu và các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động.
“Ngân hàng đã báo cáo là đến nay có 102.000 doanh nghiệp đã tiếp cận vốn vay này, theo số báo cáo mà chúng tôi có được ở Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam thì cuối năm vừa rồi chúng ta có khoảng 236.000 doanh nghiệp nhưng trong thực tế thì không phải doanh nghiệp nào cũng thiếu vốn để tiếp cận ngân hàng, còn bộ phận doanh nghiệp thì không đủ các điều kiện tuân thủ theo các điều kiện chất lượng. Tôi nghĩ đưa số 20% này là 20% có tiếp cận vốn hỗ trợ lãi suất cũng không phù hợp lắm vì chúng ta đâu có hỗ trợ tất cả các đối tượng. Cũng có ý kiến hiệu quả, không hiệu quả, nhưng theo chúng tôi thì từ doanh nghiệp, từ các đồng chí lãnh đạo địa phương tất cả đều đánh giá có hiệu quả”, Thống đốc khẳng định.
Thống đốc cũng nhất trí, Quyết định 497 qua thực hiện đã xuất hiện một số vấn đề vướng mắc. Bộ chủ trì đã chuẩn bị báo cáo Thủ tướng, mới đây Nghị quyết của Chính phủ họp thường kỳ tháng 10 vừa qua và Thủ tướng cũng đã giao cho Bộ chủ trì khẩn trương hoàn thiện chỉnh sửa ngay. Những nội dung chỉnh sửa gồm: ban hành sớm và đầy đủ quy định về nội địa hóa, bỏ xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, bỏ giới hạn cho vay 1 ha tối đa chỉ có 7 triệu đồng.
Về ý kiến của đại biểu Trần Du Lịch-TP Hồ Chí Minh rằng Quyết định 497 thì có một số ngân hàng xé rào, Thống đốc cho biết, xé rào theo quy định thì phải xử lý, nhưng trong hoàn cảnh này, Ngân hàng Nhà nước sẽ bàn đồng bộ theo hướng nếu cơ bản không có vi phạm chính sách của Đảng và Nhà nước thì có thể xem xét.
Làm rõ thêm về gói kích cầu, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc khẳng định, tất cả các giải pháp đồng bộ của gói kích cầu đã giúp Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng một cách hợp lý của năm 2009, tốc độ tăng trưởng đã tăng dần theo từng quý một.
“Trong thời kỳ đầu quý I chúng ta chỉ tăng trưởng ở mức 3,14%, sang quý II tốc độ tăng trưởng đã trên 4,46%, quý III là 5,76%, quý IV này chúng tôi dự kiến tăng trưởng ở mức trên 6,8%. Với mức tăng trưởng đó cả năm chúng ta sẽ tăng trưởng được 5,2%”, Bộ trưởng nói.
Bộ trưởng cũng cho biết, từng ngành cũng có tốc độ tăng trưởng tốt, như tốc độ tăng trưởng công nghiệp của tháng 1/2009 là âm 0,4% nhưng sang tháng 10 tăng trưởng công nghiệp lên 11%; xây dựng quý IV/2008 tăng trưởng âm nhưng đến thời điểm này tăng trưởng 11%, dự kiến cả năm là 11,3%; chỉ số giá tiêu dùng đến tháng 10 mới là 4,49% so với 31/12/2008; tỷ lệ hộ đói nghèo còn 11%....
Lý giải việc mới chỉ có 20% DN tiếp cận được vốn kích cầu, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cho rằng, đây là điều đương nhiên.
“Chúng ta biết doanh nghiệp Việt Nam hoạt động phần lớn hiện nay, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa phần lớn dựa vào vốn gia đình, vốn tự có, vốn vay mượn trong nội bộ gia đình, một phần sử dụng nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng, không phải 100% tiếp cận với vốn ngân hàng. Nội dung gói kích cầu của chúng ta Quyết định 131 cũng hạn chế theo đối tượng như hỗ trợ cho xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương tùy theo mức độ mạnh, yếu của nhiều doanh nghiệp hoặc tùy theo loại hình doanh nghiệp mà có sự tiếp cận nguồn vốn này khác nhau. Ví dụ thành phố Đà Nẵng, theo điều tra của chúng tôi thì có 63% tổng số doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn này, nhưng ở các nơi khác thì thấp hơn. Quyết định 443 nói chung triển khai tốt. Theo số liệu của chúng tôi đến ngày 22/10 thì vốn tín dụng thực hiện theo Quyết định 131 được 360 ngàn tỷ đồng”, Bộ trưởng cho biết.
Riêng thực hiện theo Quyết định 497 mới được 700 tỷ đồng - một con số rất thấp – Bộ trưởng lý giải là do tiêu chí cho vay có những điều đúng, có những điều cần bổ sung, như máy nông nghiệp chỉ hỗ trợ cho đối tượng sản xuất tại địa bàn trong nước Việt Nam nhưng chưa hướng dẫn cụ thể chi tiết sản xuất như thế nào, bao nhiêu % nội địa; một số quy định cụ thể, thủ tục còn phiền hà như quy định chỉ được vay 7 triệu đồng cho một hecta… Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang kiến nghị Chính phủ là giao cho Thống đốc ngân hàng Nhà nước mà Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã tiếp thu là làm một nghị định để quy định về việc vay vốn của nông dân theo hình thức ổn định và lâu dài.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Cao Đức Phát cũng bổ sung thêm thông tin cho các vấn đề liên quan đến gói kích cầu, chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Bộ trưởng cho biết, bên cạnh việc cho vay hỗ trợ lãi suất theo Quyết định 497 thì còn có những chương trình cho vay lớn hơn là 131, 443, 579. Tính đến thời điểm này, nông nghiệp, nông dân, nông thôn là đã được vay tới 46% trong tổng số vốn vay có hỗ trợ. Ngoài khoản hỗ trợ thông qua tín dụng thì Chính phủ còn tăng mạnh đầu tư ngân sách cũng như sử dụng trái phiếu Chính phủ mà Quốc hội cho phép huy động và các nguồn khác để hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Riêng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm nay được giao giải ngân gần 10.000 tỷ đồng so với 5.000 tỷ đồng của năm 2008. Ngay trong chính sách miễn, giảm thuế cũng ưu tiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
“Cũng như các đồng chí phát biểu trước tôi đã nêu là Chính phủ cũng đã nhận thấy có những tồn tại trong việc triển khai thực hiện Quyết định 497, nhưng cũng báo cáo với Quốc hội là việc triển khai quyết định này muộn hơn so với các quyết định khác và đến bây giờ thì nó mới bắt đầu đi vào cuộc sống. Vì thế cho nên Chính phủ đã có chủ trương là sẽ kéo dài thực hiện đến hết năm 2010 và cũng đã giao cho các Bộ phối hợp để điều chỉnh lại cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho bà con nông dân. Nhưng đây cũng chỉ là giải pháp trước mắt, Chính phủ đã giao cho Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ soạn thảo một nghị định để triển khai một cách dài hạn hơn, đồng bộ hơn chủ trương hỗ trợ tín dụng cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Bộ trưởng Phát cho biết.
Giá vàng vừa qua biến động không phải do mất cân đối cung-cầu
Giải đáp câu hỏi của các đại biểu về những biến động giá vàng thị trường trong nước vừa qua, Thống đốc cho biết, từ năm 1999 sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 174, Ngân hàng Nhà nước chỉ có chức năng quản lý vàng trong việc xuất khẩu và chế biến vàng miếng, còn vàng hàng hóa trên thị trường bị điều chỉnh bởi Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp.
“Trong thời gian vừa qua khi giá vàng thế giới biến động nhanh, chúng tôi cũng theo dõi liên tục, đặc biệt là chiều ngày 6, ngày 9, 10 chúng tôi theo dõi thấy diễn biến khá phức tạp, chúng tôi có họp để đánh giá, nghe tất cả các thông tin từ các doanh nghiệp hoạt động vàng bạc cũng như các thông tin khác. Chúng tôi tiến hành họp và làm việc với 5 Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại Nhà nước và Hiệp hội ngân hàng để đánh giá tình hình. Chúng tôi đánh giá mặt lớn nhất là xem nó có tác động đến nhân dân rút tiền gửi để mua vàng không. Theo số liệu vàng chúng tôi quản lý xuất nhập khẩu thì trong 4 năm từ năm 2005 đến 2008, chúng ta cho nhập vàng đến 279 tấn, trong khi chúng ta mới cho xuất vàng từ cuối năm 2008 đến nay chính thức thì chỉ có 37 tấn thôi. Đầu năm nay các doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc có xuất đối với sản phẩm đã chế biến tức là đã thành hàng hóa thì phải 57 tấn nữa. Chúng tôi trừ lại thì lượng vàng trong dân còn rất lớn, mà biểu hiện trong thị trường vừa qua thì nó không phải mất cân đối cung cầu”, Thống đốc phân tích.
Từ đó, Ngân hàng Nhà nước quyết định dùng giải pháp trấn an là tốt nhất, bằng cách công bố cho nhập vàng để giá vàng tự hạ nhiệt. Đến nay, cơ bản Ngân hàng Nhà nước đã cho Qouta nhập rồi nhưng khối lượng ít.
Cũng liên quan đến một mảng khác về vàng, đó là sàn vàng, đại biểu Hoàng Thị Hảo - Hải Dương đặt vấn đề về quản lý các sàn vàng hiện nay bị buông lỏng.
Thống đốc thừa nhận, đây là kẽ hở của pháp luật. Khi có sàn vàng, Chính phủ nhìn lại toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật thì không có cơ quan nào quản lý cả. Bộ Thương mại cũ quản lý Sở giao dịch hàng hóa, trong hàng hóa thì có vàng, từ khi chúng ta có Nghị định 174 thì vàng trở thành hàng hóa bình thường, không phải là hàng hóa đặc biệt nữa. Nhưng bây giờ các ngân hàng hoạt động lĩnh vực này thì không có văn bản nào điều chỉnh, còn Thống đốc chưa cấp giấy phép nào cho hoạt động sàn vàng cả, vì chưa có văn bản nào quy định.
“Chúng tôi có báo cáo Thủ tướng, Thủ tướng có chỉ đạo thành lập tổ nghiên cứu xây dựng hành lang pháp lý. Tổ đó cũng còn những ý kiến tranh luận khác nhau, số đông người bảo để người ta kinh doanh theo Luật doanh nghiệp và Luật thương mại, còn nếu vào quản lý nữa thì lại khó. Nhưng chúng tôi vẫn kiên quyết là quản lý vì ở đây là một hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm. Chúng tôi cố gắng trong tuần này sẽ báo cáo với Thủ tướng những nội dung chính để Thủ tướng cho ý kiến vì đây là lĩnh vực rất mới mẻ đối với Việt Nam chúng ta”, Thống đốc cho biết.
Tính đến hết buổi chiều ngày 16/11, UBTV Quốc hội đã nhận được 254 chất vấn của 112 đại biểu Quốc hội ở 43 đoàn gửi đến Thủ tướng Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ và 20 vị bộ trưởng, trưởng ngành, trong đó riêng Thủ tướng có 36 chất vấn, vị Bộ trưởng được chất vấn nhiều nhất là Bộ trưởng Bộ Công thương với 30 chất vấn.
Kỳ này, có 4 Bộ trưởng đăng đàn. Cụ thể: Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Nguyễn Văn Giàu trả lời về hiệu quả triển khai chủ trương hỗ trợ lãi suất, công tác quản lý Nhà nước về thị trường ngoại tệ và công tác điều hành lãi suất ngân hàng trong điều kiện vừa phải đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, vừa ngăn ngừa lạm phát cao quay trở lại. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp trả lời về quản lý Nhà nước đối với báo chí, internet, xuất bản văn hóa phẩm và hạ tầng viễn thông. Bộ trưởng Bộ Công thương trả lời về quản lý và phát triển thị trường nội địa, việc xuất, nhập khẩu, phát triển thủy điện vừa và nhỏ. Bộ trưởng Bộ Nội vụ trả lời về quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, công tác thi đua khen thưởng và cải cách thủ tục hành chính.
Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng được dành một buổi sáng để báo cáo làm rõ thêm những vấn đề chung liên quan đến công tác quản lý, điều hành của Chính phủ xung quanh việc liên quan đến nội dung chúng ta tổ chức chất vấn ở đây và Thủ tướng trực tiếp trả lời chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội.
Vân An