Gần 300 nữ phóng viên Mỹ từng có mặt ở Việt Nam

Xem tin gốc 

Tuần Việt Nam - 37 tháng trước 79 lượt xem

Gan 300 nu phong vien My tung co mat o Viet Nam

(TuanVietNam)- Chiến trường Việt Nam từng được ví là "thiên đường với các phóng viên tự do". Những nữ phóng viên Mỹ đã tới đây và khám phá sự thật. Họ dùng ngòi bút để bảo vệ những người thuộc bên kia chiến tuyến của quân đội mình.

Không có giới hạn cho phụ nữ

Trong suốt thời kỳ xảy ra Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ước tính có khoảng 127 phụ nữ Mỹ nhận được giấy chứng nhận phóng viên của Quân đội Hoa Kỳ, và một vài trong số đó, ví dụ như Marguerite Higgins (năm 1951, là nữ phóng viên đầu tiên giành giải Pulitzer) đã trở thành một nữ phóng viên chiến trường.

Trong khi những nam phóng viên trở về từ chiến trường được thừa nhận như những anh hùng, nhận được rất nhiều bằng khen, giấy chứng nhận (như Eddie Adams – phóng viên ảnh nổi tiếng thế giới từng tác nghiệp trên chiến trường Việt Nam) thì những người nữ phóng viên chiến trường dường như hoàn toàn bị lãng quên.

Thẻ phóng viên của Laura Palmer - cô gái đến Sài Gòn vì đã hẹn

với người yêu là một bác sĩ khoa nhi đóng quân tại đây

(Nguồn: users.interport)

Từ trước thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh Việt Nam, một số lượng lớn các nữ phóng viên Mỹ đã từng tham gia lấy tin thời sự, ghi chép lại diễn biến của các cuộc chiến trên thế giới.

Tất cả những gì người phóng viên cần để có thể đến Việt Nam tác nghiệp là một bức thư với lời giới thiệu từ ba cơ quan báo chí, chứng nhận rằng người phóng viên đó rất yêu nghề nghiệp của mình.

Sở hữu một chiếc thẻ phóng viên không chỉ giúp họ đi khắp các chiến trường mà không tốn tiền, mà còn có thể sử dụng nó trong các trường hợp nguy hiểm cho tính mạng. Ví dụ như trường hợp Peter Collier (một phóng viên Mỹ trên chiến trường Việt Nam, năm 1969) gặp tình huống một binh sĩ chĩa súng vào người, Collier lập tức chìa chiếc thẻ phóng viên của mình ra và hét lên “Tôi là phóng viên”.

Ngoài ra, chiếc thẻ phóng viên này còn giúp họ có thể tùy ý sử dụng các phương tiện vận chuyển trên không hoặc trên mặt đất, được quyền phỏng vấn những vị chỉ huy quân sự, được phép sử dụng ống kính, máy quay, đồ ăn và chỗ ở. Thậm chí họ còn sử dụng nó để được cấp quân phục, giầy, tất chuyên dụng.

Nữ phóng viên nổi tiếng Jurate Kazickas kể rằng: “Với chiếc thẻ phóng viên, bạn có thể làm mọi điều mình muốn”.

Ngày nào cũng có những chuyến bay đáp xuống Sài Gòn, chở các nữ phóng viên đến chiến trường Việt Nam làm nhiệm vụ. Theo thống kê thì thời gian đó có khoảng 467 nữ phóng viên tới Việt Nam trong đó có khoảng 267 là nữ phóng viên quốc tịch Mỹ.

Muôn vàn lý do

Tad Bartimus đang phỏng vấn

một vị chỉ huy tại chiến trường

VN năm 1973 và hiện nay

Nguồn: Tadbartimus.com)

Rất nhiều phụ nữ đầu tiên đến Việt Nam do những mục đích riêng tư, có cả những người là bạn gái của các binh sĩ. Với Laura Palmer, lý do duy nhất khiến cô có mặt tại Sài Gòn là vì hẹn với người yêu là một bác sĩ khoa nhi tham chiến tại đây.

Chuyện tình cảm không được như mong đợi nhưng cô vẫn quyết định ở lại Việt Nam với tư cách là một cộng tác viên cho ABC-Radio và viết báo cho tạp chí Rolling Stone. Nhiều năm sau đó, cô đã viết cuốn sách "Shrapnel in the Heart" (Vết thương lòng), ghi chép lại những bài thơ, bức thư của những cựu chiến binh Mỹ tại chiến trường Việt Nam.

Những năm đầu thập kỷ 70, thế kỷ 20, Edith Lederer và Tad Bartimus đến Sài Gòn với tư cách là phóng viên cho hãng tin AP, sau đó họ cũng đến các chiến trường khác để lấy tin. Bartimus đã phải nài xin Tổng biên tập hãng tin AP để được đến Việt Nam tác nghiệp, và cuối cùng cô cũng được phép đến chiến trường Việt Nam vào năm 1973. Nữ phóng viên Tad Bartimus đã nói rằng: “Chẳng có gì phải sợ cả!”

Một số khác được gửi tới chiến trường Việt Nam với tâm lý pha chút bối rối. Ví dụ như phóng viên Hãng thông tấn Hoa Kỳ (UPI - United Press International), Tracy Wood có chút lo lắng khi cô bị cơ quan gửi tới Sài Gòn vào năm 1972 để lấy tin.

Tracy Wood, hiện là Tổng điều tra cho Cục đăng kiểm quận Cam, California, Mỹ đã nói rằng: “

Về bản chất tôi không phải là một người ưa bạo lực! Tôi biết rằng tôi sắp phải chứng kiến cảnh con người bị tàn sát. Đó thực sự không phải là ước vọng của cuộc đời tôi. Nhưng tôi cũng không muốn từ chối họ. Tôi thấy mình có nghĩa vụ phải đi. Nếu tôi từ chối lời đề nghị thì tôi thấy đó quả là một sự sỉ nhục đối với phụ nữ nói chung!”.

Đinh Hiền (Tổng hợp)

Còn tiếp....

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang