Hiện nay, có nhiều tranh luận gay gắt của giới phân tích Mỹ về nguy cơ lạm phát của nền kinh tế lớn này. Một số ý kiến thì cho rằng hiện tại tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ gần ở mức 10%, tỷ lệ sản xuất công nghiệp thấp, khiến cho nhu cầu giảm, điều này hoàn toàn có thể kiềm chế lạm phát. Nhưng có ý kiến lại cho rằng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, đây cũng là hạt giống gây lên lạm phát.
Đề ngăn chặn nguy cơ lạm phát cao trong tương lai, chính sách tiền tệ với nhưũng điều chỉnh kịp thời của FED là hoàn toàn cần thiết, từ kinh nghiệm là hai cuộc suy thoái kinh tế đã trải qua, Cục dự Trữ Liên bang Mỹ mới bắt đầu tăng lãi suất tại phiên họp diễn ra từ sau hai năm rưỡi đến ba năm khi mà khủng hoảng tài chính kết thúc. Nếu như theo kinh nghiệm này, sau lần khủng hoảng hiện tại, cục Dữ trữ Liên bang Mỹ phải đến năm 2012 mới thực hiện chính sách tăng lãi suất. Tuy nhiên, nếu cục Dự trữ Liên bang Mỹ duy trì mức lãi suất thấp sẽ khiến cho những tài sản của Mỹ xuất hiện tình trạng bong bóng, vì vậy hiện tại FED đang xem xét đến thời gian tiếp tục điều chỉnh tăng mức lãi suất.
Lạm phát và lãi suất tăng luôn là vấn đề của chính sách tiền tệ. Không có mối liên hệ rõ ràng nào giữa thâm hụt ngân sách với lạm phát và tỷ lệ lãi suất. Trong suốt hai thập kỷ 1980 và 1990 và hầu hết những năm 2000, ngoại trừ giai đoạn bong bóng 2003-2005, lạm phát và lãi suất đã giảm xuống, trong khi thâm hụt ngân sách trung bình lên tới hơn 200 tỷ USD và có lúc chiếm tới 6% GDP. Nguyên nhân là vì các chủ tịch FED Paul Volcker và Alan Greenspan đã hạn chế in thêm tiền mặt. Thâm hụt ngân sách 2.000 tỷ USD hiện nay, tương đương 13% GDP và chắc chắn sẽ còn ở mức cao, là con số gây sốc. Tuy nhiên, nếu FED không in thêm tiền để bù đắp vào khoản thâm hụt ngân sách này, thì lạm phát sẽ vẫn ở mức thấp và tỷ lệ lãi suất dài hạn sẽ ở mức bình thường.