Đừng để hoại tử chi vì viêm tắc động mạch

Xem tin gốc 

Báo Phụ Nữ Online - 37 tháng trước 164 lượt xem

Dung de hoai tu chi vi viem tac dong mach

PNO - Viêm tắc động mạch là bệnh lý khá phổ biến, tuy nhiên giai đoạn sớm của bệnh thường khó nhận biết và dễ nhầm lẫn với bệnh khác như đau xương khớp, đau cơ hay thần kinh ngoại vi…

Đa phần bệnh nhân khi đến bệnh viện đã vào giai đoạn trễ của bệnh là hoại tử đầu chi và tỷ lệ đoạn chi khá cao. Vì vậy, việc phát hiện bệnh sớm rất quan trọng.

Nguyên nhân hàng đầu của viêm tắc động mạch là do xơ vữa động mạch. Ngoài ra tiểu đường, hút thuốc lá cũng là một trong các yếu tố thuận lợi dẫn đến bệnh này.

Triệu chứng

Giai đoạn sớm: thường đau nhức, dị cảm, tê đầu chi. Ở chi dưới biểu hiện bằng triệu chứng “đi lặc cách hồi”: đau chân khi đi được một đoạn đường nhất định, thường đau ở bắp chân rồi lan xuống bàn chân, bệnh nhân phải dừng lại nghỉ một chút thì có thể đi tiếp và lại đau trở lại khi đi được đoạn đường như ban đầu. Càng về sau đoạn đường đi được càng ngắn.

Tím các đầu ngón

Giai đoạn trễ hơn: đau xảy ra ngay cả lúc nghỉ, thường về đêm và bệnh nhân phải thõng chân xuống mới thấy dễ chịu hơn.

Giai đoạn muộn: đầu chi bắt đầu tím dần và hoại tử đen, lúc đầu thường xảy ra ở đầu các ngón tay hay chân. Sau đó tình trạng hoại tử lan dần lên cả ngón tay, chân hay cả bàn tay, chân …

Thăm khám

- Mất mạch: không sờ thấy mạch đập ở những vùng được dùng để bắt mạch như cổ tay, bàn chân.

- Da vùng ngọn chi bị lạnh, khô; lông, móng không phát triển, và teo cơ vùng động mạch bị viêm tắc chi phối.

- Muộn hơn có thể thấy tím, hoại tử đen các đầu ngón tay, chân hay cả bàn tay, chân.

Hoại tử đen đầu ngón

Xét nghiệm

Xét nghiệm thường được dùng để khảo sát tình trạng mạch máu là siêu âm Doppler vừa đơn giản, vừa rẻ tiền, dễ thực hiện và độ chính xác cao. Ngoài ra, để chẩn đoán chính xác hình thái, mức độ tổn thương mạch máu và để hoạch định chiến lược trong điều trị viêm tắc mạch máu, thì chụp cắt lớp dựng hình mạch máu, chụp cộng hưởng từ mạch máu hay chụp mạch máu xóa nền thường được dùng.

Điều trị

Cần phải loại bỏ các yếu tố nguy cơ bằng cách thực hiện chế độ ăn tiết chế chất béo để tránh xơ vữa động mạch, ngưng hút thuốc lá hoàn toàn. Nếu có bệnh tiểu đường thì cần ăn uống tiết chế và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ để đường huyết được kiểm soát tốt.

Tập đi bộ là hình thức giúp tăng tưới máu đến vùng chi bị thiếu máu do viêm tắc mạch. Cần chú ý tập đi bộ tăng dần chiều dài của quãng đường, không nên luyện tập một cách quá mức ngay những lần tập đầu tiên.

Giữ gìn vệ sinh vùng đầu ngón tay, chân hay bàn chân, đặc biệt với những bệnh nhân có bệnh tiểu đường vốn dễ đưa đến loét và hoại tử bàn chân.

Dùng các thuốc giãn mạch máu như: Buflomedin, Pentoxyfilline, Ilomedin, Naftidrofuryl … và các thuốc ngăn ngừa đông máu như: aspirin, clopidogrel…

Nong mạch máu bằng bóng hay đặt stent qua chỗ hẹp thường được chỉ định khi mạch máu hẹp hơn 70% đường kính, và được thực hiện trong lúc tiến hành chụp mạch máu xóa nền.

Phẫu thuật cắt hạch giao cảm ngực được áp dụng để điều trị viêm tắc mạch máu nhỏ ở chi trên, và phẫu thuật cắt hạch giao cảm thắt lưng được dùng để điều trị tắc mạch máu nhỏ ở chi dưới.

Phẫu thuật bắc cầu: dẫn máu qua chỗ mạch máu bị tắc bằng đoạn mạch máu nhân tạo hay bằng đoạn tĩnh mạch được lấy ra từ chính cơ thể bệnh nhân, thường được áp dụng khi mạch máu tắc hoàn toàn trên một đoạn dài.

Phẫu thuật đoạn chi: được thực hiện khi bệnh ở giai đoạn muộn, các đầu chi hay toàn bộ chi đã bị hoại tử hoàn toàn do thiếu máu nuôi trong một thời gian dài.

Điều trị viêm tắc mạch máu giúp bảo tồn được chi với tỷ lệ thành công cao khi bệnh được phát hiện sớm và chưa có dấu hiệu hoại tử chi. Một khi đã xuất hiện dấu hiệu hoại tử chi, thì phẫu thuật đoạn chi là tất yếu dù đã tích cực điều trị kết hợp các biện pháp nêu trên.

BS Trần Minh Bảo Luân

(Phòng khám Lồng ngực - Mạch máu,

BV Đại học Y dược TP.HCM)

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang