Dự cảm thị trường tiền tệ và triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế

Xem tin gốc 

Pháp luật TPHCM - 29 tháng trước 62 lượt xem

Tình hình kinh tế thế giới đã lạc quan hơn, những vẫn ẩn chứa những bất định. Nền kinh tế Việt Nam đang phát đi tín hiệu hồi phục khả quan. Những rủi ro về kinh tế vĩ mô tuy vẫn còn, nhưng quan trọng là nó đang nằm trong tầm kiểm soát.

Bức tranh kinh tế và thị trường tài chính - tiền tệ thế giới và trong nước năm 2010 vẫn ẩn hiện những yếu tố thuận nghịch đan xen...

Kinh tế thế giới - lạc quan nhưng tính bất định vẫn cao

Thế giới bước vào năm nay xen lẫn tin xấ u và tin tốt. Tin tốt đó là tất cả các đánh giá, nhìn nhận triển vọng kinh tế năm 2010 đều dần lạc quan hơn. Chẳng hạn vào thời điểm tháng 4-2009, Báo cáo IMF nhận đinh rằng, kinh tế thế giới tăng trưởng - 1,5% năm 2009 và tăng trưởng năm 2010 khoảng 1,9%; nhưng đến tháng 7-2009, lại nhận định kinh tế thế giới tăng trưởng -1,4% và tăng trưởng năm 2010 là 2,5%; đến tháng 10-2009, các con số tương ứng là - 1,1% và 3,1%. Gần đây, niềm tin của người tiêu dùng đã vững vàng hơn nhiều. Nhưng bên cạnh đó, thế giới vẫn có không ít những tin xấu, minh chứng như vụ việc "nợ nần" của Tập đoàn địa ốc hàng đầu Dubai World của Các tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất (UAE), hay vụ về khả năng vỡ nợ gia tăng của chính phủ Hy Lạp...

Qua những tin tức ấy, chúng ta có thể thấy, tình hình kinh tế thế giới đã ít nhiều có sắc "hồng" song tính bất định còn khá cao. Có nhiều nguyên nhân ở đây. Thứ nhất, hệ thống tài chính thế giới một khi còn chưa ổn định thì sự phục hồi kinh tế vẫn tiềm ẩn rủi ro. Mặc dù thế giới đã bỏ ra tới 11.000 tỉ USD để cứu chữa và mua tài sản "độc hại", nhưng hệ thống tài chính vẫn chưa "sạch". Bằng chứng như vụ Dubai - "biểu tượng của thế kỷ 21" cũng còn bị lung lay; hay trước đó (1-11-2009), sự phá sản của ngân hàng CIT (Mỹ) - một trong 5 ngân hàng lớn nhất thế giới và là vụ phá sản lớn thứ năm trong lịch sử nước Mỹ, sau sự sụp đổ của các "đại gia" Lehman Brothers (691 tỉ USD), Washington Mutual (327,9 tỉ USD), WorldCom (103,9 tỉ USD) và General Motors (91 tỉ USD).

Thứ hai, sự phục hồi tiêu dùng và đầu tư tư nhân còn rất bấp bênh. ở các nước phát triển, tiêu dùng và đầu tư tư nhân phụ thuộc nhiều vào khả năng vay tín dụng ngân hàng. Nhưng muốn vay được thì phải có việc làm, nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao và có thể tiếp tục tăng. Theo nhiều đánh giá thì đến năm 2010, thất nghiệp ở Mỹ vẫn trên dưới 10%, Châu Âu có nước là 15%-17%, nước thấp cũng khoảng 8%-9%. Khi thất nghiệp thì người lao động không thể vay tín dụng, do đó khó có thể tăng tiêu dùng và đầu tư. Đây là yếu tố quyết định tới 80% tiêu dùng và đầu tư ở các nước phát triển. Hơn nữa, hành vi tiêu dùng của người dân các nước phát triển cũng đang thay đổi. Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, người Mỹ tiết kiệm tới 5%-6% thu nhập của mình. Sở dĩ thất nghiệp chưa thể giảm vì tăng trưởng còn yếu, chưa đủ để hấp thụ một số lượng lao động mới, trong khi nhiều công ty vực dậy là do cơ cấu lại và giảm nhân công. Rõ ràng, sự phục hồi tiêu dùng và đầu tư tư nhân còn là một ẩn số.

Thứ ba, nguyên nhân quan trọng nhất, đó là hầu hết chính phủ các nước đều đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Một mặt, nếu chính phủ dừng lại các gói kích thích kinh tế không chuẩn, khi kinh tế tư nhân chưa phục hồi, thì nền kinh tế lại rơi vào suy thoái. Đây chính là lý do nhiều chuyên gia cho rằng, kinh tế thế giới có thể lại có đáy suy thoái mới; đáy mới có thể cao hơn đáy cũ (sự phục hồi hình W). Mặt khác, nếu kích thích tiếp thì có thể lạm phát quay trở lại, thâm hụt ngân sách và nợ Chính phủ gia tăng, gây bất ổn kinh tế vĩ mô.

Đây không chỉ là câu chuyện của Việt Nam mà còn là của nhiều nước trên thế giới và đến thời điểm này cách ứng xử của các nước lại khác nhau. úc là nước đầu tiên trong G20 tăng lãi suất. Trung Quốc chưa tăng lãi suất nhưng hiện nay đã kìm hãm mức tín dụng ngân hàng thương mại nhà nước nhất là cho vay bất động sản và "chơi" chứng khoán (đầu tháng 1-2010, Trung Quốc đã tăng 0,5 điểm phần trăm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, vượt trước kỳ vọng của thị trường). Còn Nhật Bản thì đang thiểu phát, Chính phủ lại mới có gói kích thích 81 tỉ USD... Vì thế chúng ta vẫn chưa rõ được các quốc gia ứng xử chính sách thế nào, chính xác vào thời điểm nào với dư chấn của khủng hoảng tài chính. Nhiều dự báo cho rằng thời điểm chuyển đổi chính sách của Chính phủ các nước rõ nhất phải đến quý II-2010. Theo những dự báo đó thì khi đó lãi suất của Trung Quốc và nhiều nước Đông Á đều sẽ tăng ít nhiều. Riêng Mỹ hiện cũng đặt lên đặt xuống bàn cân, rồi vẫn quyết định giữ nguyên lãi suất và dự báo quý II hoặc quí III-2010 mới tăng. Khi đó giá trị đồng USD sẽ "nhích" lên.

USD vững vị thế - Vàng hạ nhiệt?

Về ngắn hạn, có thể vào cuối năm 2010 đồng USD sẽ lên giá, do Mỹ bắt đầu tăng lãi suất. Tuy nhiên, mức độ lên giá bao nhiêu còn phụ thuộc vào lạm phát, vào sự lên giá của các đồng tiền khác. Về dài hạn, đồng USD vẫn là đồng tiền chưa thể thay thế, mặc dù có yếu đi. Giáo sư kinh tế Paul Krugman, khi sang Việt Nam đã phát biểu rằng, cho đến khi ông chết thì đồng USD mặc dù không còn ngạo nghễ như trước nhưng vẫn là đồng tiền chủ đạo trên thị trường quốc tế. Còn một nhà chiêm tinh kinh tế cũng nói rằng, trong vòng ít nhất 20 năm tới vẫn chưa có chuyện gì xảy ra với đồng USD. Hay một chuyên gia Nhật Bản, khiêm nhường hơn, cũng nhận định rằng, ít nhất trong 7-10 năm tới vẫn chưa có gì thay đổi.

Lý do vì sao? Mặc dù đồng USD yếu dần đi; nhưng: Thứ nhất, mọi người đã quen định giá bằng USD. Thứ hai, dù giảm song vẫn có tới trên dưới 60% giao dịch đầu tư vào thương mại thế giới sử dụng USD. Thứ ba, tỷ lệ dự trữ ngoại tệ của các quốc gia trên thế giới vào cuối năm 2009 so với năm 2008 (70%) có giảm thì vẫn ở con số 62% là bằng USD. Thứ tư, điều rất quan trọng hiện nay, đó là "người điều binh khiển tướng" về vàng và tiền tệ vẫn là Mỹ. Vì thế, trong dài hạn nhìn thấy được thì đồng USD vẫn là chủ đạo trên thị trường quốc tế.

Còn về vàng thì nhiều dự đoán cho rằng, trong trung và dài hạn giá vàng sẽ tăng. Có nhiều lý do quen thuộc thường được đưa ra. Thứ nhất, nhiều nước muốn tăng tỷ lệ dự trữ ngoại hối bằng vàng. Thứ hai, đồng USD có xu hướng yếu đi. Thứ ba, cung vàng sụt giảm. Thứ tư, người dân có xu hướng trong thời buổi khó khăn, bất định thì tốt nhất nên mua và dự trữ vàng để đảm bảo giá trị tài sản.

Không phủ định các lập luận đó, song cũng có những lập luận ủng hộ việc giá vàng trong trung và dài hạn sẽ có xu hướng giảm. Tính theo giá thực, trong lịch sử 1.200 USD/ounce không phải là giá vàng cao nhất. Giá vàng năm 1984 là trên 800 USD/ounce - vào thời điểm đó 800 USD giá trị hơn nhiều 1.200 USD hiện nay). Nhưng giá vàng sau 7 năm, đến năm 2001 giảm xuống còn khoảng 220 - 240 USD/ounce. Như vậy giá vàng đã giảm tới 3,5 lần (ngay tính theo giá hiện hành). Bên cạnh đó, cung vàng được dự báo không hề sẽ giảm; năm 2001, cung vàng thế giới trung bình 0,21g/người, dự báo đến năm 2050 con số này là trên 20g/người. Hơn nữa, dù quan tâm hơn đến vàng, thì tỷ lệ vàng trong dự trữ ngoại hối thế giới rấ t nhỏ. Tiếp nữa là vàng ngày càng có ít giá trị về mặt chính trị và kinh tế. Vì thế, chưa chắc giá vàng đã tăng mà có thể giảm.

Điều đáng nói nhất là cần nhìn vàng như mọi hàng hóa (commodities) khác. Và như vậy, ngoài quan hệ cung cầu, nó rất dễ bị các nhà đầu cơ lũng đoạn. Đồng thời, vàng vẫn có một ưu điểm quan trọng là tính thanh khoản rất cao.

Kinh tế Việt Nam phục hồi đà tăng trưởng

Năm 2009, Chính phủ thực hiện mạnh mẽ gói kích thích kinh tế, bao gồm 4 nhóm biện pháp. Nhóm chính sách tiền tệ gồm: nới lỏng chính sách tiền tệ và hỗ trợ lãi suất 17.000 tỉ đồng (ngắn hạn, trung và dài hạn, và cho nông dân). Nhóm chính sách tài khóa gồm: miễn thuế và giảm thuế (28.000 tỉ đồng), đầu tư phát triển, đặc biệt là phát triển kết cấu hạ tầng (90.800 tỉ đồng), và hỗ trợ an sinh xã hội (9.800 tỉ đồng). Như vậy, tổng cộng khoảng 145.600 tỉ đồng và giải ngân thực khoảng 70% của con số này; trong đó, hỗ trợ lãi suất 10.000 tỉ, thuế 20.000 tỉ, đầu tư phát triển 60.800 tỉ, và hỗ trợ an sinh xã hội 9.800 tỉ đồng. Nếu nhìn từ 4 biện pháp thì năm 2010 vẫn có thể có khả năng Chính phủ kích thích kinh tế mà đặc biệt là chi cho đầu tư phát triển với khoảng 56.000 tỉ đồng trái phiếu và Chính phủ vẫn chấp nhận thâm hụt ngân sách thấp hơn 6,2%.

Hiện nay, tín hiệu của Chính phủ là rất rõ ràng: đó là những tháng trước mắt là ổn định kinh tế vĩ mô. Quốc tế đánh giá về sự phát triển của kinh tế Việt Nam như sau: Xếp hạng tín dụng thuộc loại dưới mức đầu tư ngang hàng với Camphuchia và thấp hơn Philippin, Indonesia... CDS - bảo hiểm rủi ro tín dụng (hoán đổi tín dụng, đỗ vỡ tín dụng => CDS spread - phí bảo hiểm trái phiếu chính phủ bán ở nước ngoài), chỉ số này càng cao thì rủi ro kinh tế vĩ mô càng lớn và ngược lại. Việt Nam năm 2009 tốt hơn (lúc tốt nhất 175 - 180) năm 2008 (500 - 600). Như thế có nghĩa là tình hình hiện nay nếu căng thẳng cũng không đến mức quá ảnh hưởng về kinh tế vĩ mô.

Về lạm phát năm 2010, dự báo khoảng 8,5%-10%. Giá cả trên toàn thế giới nhiều khả năng sẽ tăng. Đồng thời, cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, năm 2009 là năm đầu tiên sau 7 - 8 năm thâm hụt cả 2 khoản là thâm hụt thương mại vãng lai và tất cả dòng tiền ra, dòng tiền vào (cán cân thanh toán quốc tế tổng thể) khoảng 1,5 tỉ USD. áp lực trên thị trường ngoại hối là có thật, nhưng áp lực không phải vì chúng ta thiếu 1,5 tỉ USD. Việt Nam không thiếu USD; hiện nay trong nước có khoảng 35 tỉ USD bao gồm 15 tỉ dự trữ, tổ chức gửi khoảng 10 tỉ, nhân dân gửi khoảng 10 tỉ. Như vậy, luồng vào không thiếu. Nhưng ở Việt Nam USD vào thì lại dự trữ. Cái quan trọng là làm sao để có được niềm tin để nguồn dự trữ biến thành luồng tiền lưu thông. Để khắc phục điều này, Chính phủ đã có yêu cầu buộc các tập đoàn bán nguồn dự trữ ra thị trường. Về hệ thống ngân hàng trong năm 2010, áp lực về thanh khoản sẽ cao giữa huy động và cho vay, dự đoán tăng tín dụng vào khoảng 25%. Một áp lực nữa với ngành này là nợ xấu sẽ tăng lên...

Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam năm 2010 sẽ cao hơn năm 2009 và có thể đạt mức 6%-6,5%. Mức tăng này phù hợp với nỗ lực tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô và năng lực phản ứng chính sách để giúp nền kinh tế tích lũy trước khi có bước tiến nhanh hơn ...(Theo nhận định của TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương).

Theo TBTCVN

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang