“Chúng tôi không đói ăn, đói mặc... nhưng đói thông tin vô cùng”. Ông Nguyễn Bốn Bảy, một người dân ở quận Tây Hồ (Hà Nội), phát biểu như vậy tại hội thảo góp ý cho dự án Luật tiếp cận thông tin và báo cáo đánh giá tác động của dự luật này hôm qua (2-7).
Không biết thì làm sao bàn và kiểm tra?
Ông Bảy nói khiếu tố về đất đai nhiều (chiếm tới 80%) suy cho cùng cũng do không thông tin cho người dân biết đầy đủ, cặn kẽ. “Giải thích cho người dân, cán bộ chỉ nói quyết định như vậy, chính sách như vậy thì phải thi hành” - ông Bảy ngán ngẩm bảo.
Ông Bảy dẫn chứng về dự án cầu Nhật Tân, từ năm 2006, Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo Bộ Giao thông Vận tải, UBND TP Hà Nội phải lấy ý kiến người dân về dự án này. Thế nhưng tới nay chưa một lần những cơ quan trên làm việc này trong khi dự án đó liên tục thay đổi thiết kế. “Chúng ta hay nhắc tới câu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nhưng nếu người dân chúng tôi không biết được thông tin thì chúng tôi bàn cái gì, kiểm tra cái gì?” - ông Bảy bức xúc. Sau đó, ông Bảy ví Luật tiếp cận thông tin giống như chiếc “phao cứu sinh” của người dân. Ông trách mãi tới năm 2012 luật này mới được ban hành và có hiệu lực là quá chậm.
Đồng tình, tiến sĩ Thái Vĩnh Thắng, Chủ nhiệm khoa Hành chính nhà nước (Đại học Luật Hà Nội), dẫn lời một chuyên gia nước ngoài ví luật này chính là “osin của nền dân chủ”. Ông Thắng cho rằng mục đích lớn nhất của dự luật này là mở rộng đóng góp của người dân đối với việc xây dựng và phát triển đất nước.
Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao (khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội) đánh giá thông tin chính là căn cứ để công dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình một khi các quyết định của cơ quan nhà nước làm ảnh hưởng tới họ. Thông tin còn là một trong những công cụ quan trọng để có được một nhà nước hiệu quả, loại trừ, giảm thiểu tham nhũng, lạm quyền.
“Thông tin còn là tiền đề cho phản biện xã hội. Cơ thể nhà nước cũng giống một cơ thể sinh học, phải có trao đổi chất. Nhà nước, thể chế chính trị chỉ tồn tại, phát triển và tốt khi có trao đổi thông tin với bên ngoài. Từ việc cung cấp thông tin đó, anh nhận được thông tin phản hồi thì lúc đó anh mới quản trị quốc gia tốt được. Vì sao người ta đặt vấn đề mô hình chính phủ phải mở? Phải mở mới sống được, nếu không nó sẽ là chính thể quan liêu, bao cấp và chắc chắn nó sẽ đưa ra nhiều quyết sách sai lầm, khó hiểu” - ông Giao nói.
Công khai bản án: Cú hích cho cải cách tư pháp
Tiến sĩ Giao cũng cho rằng dự luật này phải giải được hai bài toán. Thứ nhất là Chính phủ phải mở, mở để bớt quan liêu, bớt lạm quyền. Mục tiêu thứ hai không kém phần quan trọng là làm sao để người dân thực hiện được quyền của mình, có được thông tin để bảo vệ mình trước sự lạm quyền, trước sự khép kín của cơ quan công quyền.
Từ cách tiếp cận trên, ông Giao kiến nghị hai nhóm thông tin cần được công bố. Nhóm thứ nhất là thông tin liên quan đến cấu trúc và quy trình hoạt động của các cơ quan công quyền. “Nhiều nước họ công bố cả danh tính, số điện thoại của những người nắm giữ chức vụ trong bộ máy công quyền. Chúng ta cũng đã bước đầu làm được việc này” - ông Giao nói.
Cạnh đó, theo ông Giao, về cơ bản thì những “sản phẩm” của các cơ quan công quyền cũng phải được công khai. Ông Giao đặc biệt nhấn mạnh tới việc bắt buộc phải công khai “sản phẩm cuối cùng” của hoạt động tư pháp là các bản án đã có hiệu lực pháp luật. “Nếu công khai được các bản án thì giáo dục của chúng ta sẽ tốt hơn. Mặt khác, bản án, kết luận của tòa sẽ là thách thức rất lớn đối với năng lực của thẩm phán. Và đặc biệt là minh bạch hơn. Cùng một tính chất sự việc, tại sao ở Hà Nội lại xử thế này, TP.HCM lại xử thế kia?... Nếu chúng ta làm được việc này thì sẽ là cú hích lớn đối với cải cách tư pháp” - ông Giao nhấn mạnh.
Cản trở quyền tiếp cận thông tin: Phải xử lý
Ông Trương Anh Tuấn, đại diện HĐND tỉnh Nam Định, nhận xét dự luật có nhiều quy định “nói cho oai” chứ chưa có chế tài để bảo đảm tính khả thi. Ông Tuấn dẫn chứng theo khoản 3 Điều 28 dự luật, việc từ chối cung cấp thông tin do người đứng đầu cơ quan hoặc người được ủy quyền quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định từ chối cung cấp. “Thế nhưng chịu trách nhiệm như thế nào thì không rõ được quy định ở đâu?” - ông Tuấn nói.
Ông Giao cũng cho rằng cần bổ sung điều khoản để bảo đảm tính thực thi của luật này, tránh lặp lại câu chuyện của Pháp lệnh Dân chủ cơ sở. “Chúng ta cứ hay đẩy vấn đề sang cho Luật Khiếu nại, tố cáo nhưng bản thân luật đó cũng đang có bao nhiêu vấn đề. Do vậy, cần có quy định để khi người dân bị từ chối cung cấp thông tin, người ta có thể tự bảo vệ mình bằng chính những thiết chế của Luật tiếp cận thông tin. Luật cũng cần quy định sẽ xử lý cán bộ, công chức như thế nào khi từ chối cung cấp thông tin không đúng quy định” - ông Giao đề xuất.
Kiến nghị sửa Luật Báo chí: Có nên truy cứu nguồn tin?
Trong bài tham luận gửi hội thảo, tiến sĩ Tường Duy Kiên (Học viện Chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) kiến nghị cần nghiên cứu sửa đổi Luật Báo chí theo hướng báo chí được phản ánh, đăng tải các thông tin khác nhau, không bị truy cứu, xét hỏi về nguồn gốc có được thông tin như thế nào. Nhà báo chỉ phải chịu trách nhiệm về độ trung thực và tính chính xác của thông tin.
Cũng theo tiến sĩ Kiên, để bảo đảm thực hiện tốt quyền tiếp cận thông tin của công dân, cần sửa Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước vì theo đó “danh mục mật” cũng có thể không được cơ quan nhà nước công bố nên người dân không thể biết vấn đề nào, nội dung nào là mật hay không mật. Mặt khác, có thể dẫn tới việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đóng dấu mật lên văn bản một cách tùy tiện trong khi nội dung văn bản lại không thực sự chứa đựng thông tin cần bảo mật.