5 năm sau “cuộc cách mạng bãi triều” ở Quảng Ninh, tôi mới có dịp về lại đảo Đồng Rui. Nếu không có tên trên bản đồ các khu rừng ngập mặn đặc biệt của Việt Nam thì có lẽ số phận hòn đảo này cũng đã trôi theo hàng ngàn ha đầm nuôi tôm mà ra biển sau vài trận bão. Vậy mà cũng chính nơi đây, tiên phong đắp những đầm tôm nuốt rừng, giờ lại nâng niu trồng lại từng mầm cây ngập mặn, trồng để phục sinh lại sức sống...
Đất lành giữa biển
Tiếp chuyện chúng tôi, ông Phạm Văn Hải, Phó Chủ tịch xã Đồng Rui khẳng định giọng chắc nịch: Hòn đảo này đang là điểm đến lý tưởng trong chiến dịch di dân khu vực miền núi chống đói nghèo và chống thiên tai sạt lở đất. Ông Hải nói, triền rừng ngập mặn ở Đồng Rui lên tới gần 1.500ha đang được phục hồi mạnh mẽ, nguồn lợi thủy sản cũng từ đây được tái tạo trở lại. Người dân có cơ hội sinh kế bằng nghề thu nhặt nhuyễn thể ở bãi triều. Vì thế, phần lớn đồng bào vùng sâu, vùng xa, nơi cách trở bởi núi cao rừng sâu được di dân ra ở biển lại có cơ hội sống ổn định, tiễn biệt vĩnh viễn cuộc sống đói nghèo trước đây.
Cũng theo ông Hải, cuộc di dân rầm rộ đến Đồng Rui diễn ra cách đây gần một thập kỷ. Khi đó, bà con người Dao ở các vùng xa xôi như Đại Dực, Hà Lâu, Phong Dụ của huyện Tiên Yên, Bình Liêu - hai huyện miền núi khó khăn nhất của Quảng Ninh có nguy cơ đói kiệt trong các bản làng heo hút và đối mặt với nguy cơ sạt lở đất vào mùa mưa bão. Nhóm dân cư cần kíp phải di dời được tái định cư xuống Đồng Rui, cách nơi ở cũ không xa nhưng lại là một khu đất ven biển thoáng rộng, triền rừng ngập mặn bao phủ. Đảo Đồng Rui được vịnh Tiên Yên ôm trọn, vốn là nơi có khu rừng ngập mặn nguyên sinh đẹp nhất miền Bắc. Cho đến nay, Đồng Rui phát sinh thêm một thôn ven biển với tên gọi thôn 4, gồm 38 hộ nhập cư, chủ yếu là đồng bào Dao. Và cư dân của thôn 4 sẽ còn tăng lên trong thời gian tới đây khi Quảng Ninh tiếp tục di dân khỏi vùng sạt lở đất nguy hiểm ở vùng núi.
Hiện nay, ở đảo Đồng Rui, trung bình mỗi người có 700m2 đất sản xuất. Các diện tích đất khai hoang phục hóa ở sát ven biển được quy hoạch cụ thể nhằm mục đích tạo được mặt bằng kinh tế ổn định. Tất cả các hộ chuyển từ Hà Lâu xuống Đồng Rui chưa đầy 3 năm đã xây được nhà kiên cố, kiếm sống ổn định bằng nghề thu nhặt nhuyễn thể, bắt ốc đặc sản, đào giun đất. Với trên 500ha rừng ngập mặn được phục hồi và trồng mới, gần như các loài nhuyễn thể bãi triều cũng đã phục sinh trở lại, mang lại nguồn lợi kinh tế dồi dào cho chính người dân nơi đây.
Theo ông Phạm Văn Hải, Đồng Rui muốn bứt phá thành một xã đảo giàu có không thể không tính đến việc đắp đê chống bão và triều cường. Hiện nay, thôn 4 - thôn dân di cư không có nước sạch để dùng do đất nhiễm mặn, không đào được giếng. Nguồn nước sinh hoạt cả thôn trông vào một hồ nước ngọt nằm cách bờ biển 50m. Khi triều cường thì cả hồ nước này cũng không thể sử dụng được. Hàng năm vào mùa bão, nước biển vẫn tràn qua khu dân cư vào tận trong hồ. Muốn có hệ thống thủy lợi thật tốt phục vụ 100ha lúa hai vụ, Đồng Rui cần có đê bao ngăn mặn. Ông Hải tính toán: Nếu dựa vào con đê cũ trước đây đã đắp để quây đầm nuôi tôm thì phải bỏ ra 100 tỷ để hòn đảo có 15km đê an toàn. Nhưng nếu mạnh tay hơn nữa, Đồng Rui cần một con đê nới rộng dài 31km trị giá nhiều trăm tỷ đồng để cho một hòn đảo trù phú sau này.
Rất ít những người di dân xuống Đồng Rui còn giữ nghề đi rừng, mà chủ yếu đã chuyển sang kiếm sống bằng nghề biển. Ông Tằng Quay Mản - chủ gia đình gồm 9 khẩu là người giữ nghề rừng “dai” nhất bây giờ cũng phải nói: “Bây giờ cái chân không đi rừng leo núi được nữa, rừng cũng không còn củ ba kích, củ thuốc mà đào như ngày xưa nữa rồi”. Vợ con ông Mản đã bắt đầu xuống biển học cách bắt hải sản như những người dân khác trong thôn. Đồng Rui có vùng ngập mặn nổi tiếng với đặc sản bông thùa, ruốc lỗ, ốc môi đỏ, ngán... Một người ra bãi một ngày có thể đào được vài cân bông thùa, bán ngay cho tư thương thu mua và kiếm được vài trăm ngàn đồng. Ông Tằng Quay Mản cho biết, ông và cả gia đình hồi còn ở rừng Khe Lặc đã từng bị đói, phải ăn sắn khô, có hôm say sắn gần chết. Không ai nghĩ đến việc trở lại những bản làng sâu hút hoang vắng của hôm qua.
Hết thời “tôm ăn thịt rừng”
Thời của các đầm tôm tàn phá rừng ngập mặn ở Đồng Rui đã kết thúc. Đâu đó trên bãi triều, sâu trong cánh rừng bây giờ vẫn còn những cửa cống hộp xây gạch chỉ cũ còn lại. Một thời “tôm ăn thịt rừng” đã qua, người dân Đồng Rui hiểu rằng không thể nghĩ đến những cái lợi trước mắt. Cuộc phục sinh cho Đồng Rui là lâu dài trên nền những sai lầm đã cũ. Chủ trương bảo vệ rừng ngập mặn được thực hiện nghiêm ngặt. Ban quản lý rừng ngập mặn được thành lập, có cơ chế hoạt động, xử phạt những hành vi xâm hại đến cánh rừng nguyên sinh và rừng trồng. Người nào có ý thức bảo vệ được thưởng, kẻ nào phá hoại bị phạt đích đáng. Có lẽ đây là mô hình cương quyết áp dụng không chỉ để giữ lại vốn rừng với nguồn gen quý mà còn bảo vệ môi trường sống của chính bà con dân đảo. Chương trình tài trợ các dự án quản lý bền vững rừng nhiệt đới Việt Nam của UNDP đã xây dựng Đồng Rui thành một kết cấu bền vững giữa cộng đồng và rừng, tạo cho người dân có thể hưởng lợi từ rừng, từ thành quả mà mình quản lý bảo vệ. Việc phát triển rừng cải thiện hệ sinh thái, môi trường nhằm cung cấp nguồn lợi hải sản tự nhiên, chống xói mòn, giữ đất và tạo nguồn thu nhập ổn định dưới tán rừng giúp cho việc bảo vệ rừng ngập mặn càng được nhân dân trong xã tham gia tích cực. Chỉ tính riêng năm 2009, Đồng Rui trồng mới 100ha rừng ngập mặn.
Nhiều người sống nhờ nghề đào bông thùa ở bãi triều.
Sau nhiều năm khủng hoảng rừng ngập mặn, giờ đây hòn đảo này cung cấp mỗi năm hàng trăm tấn hải sản, nhuyễn thể, thủy đặc sản, chủ yếu là nguồn lợi từ rừng ngập mặn mang lại. Tỷ lệ nghèo đói còn lại ở Đồng Rui không đáng kể. Đó là sự nỗ lực của cả cộng đồng biến một hòn đảo tàn phá rừng không thương tiếc cho những cái lợi trước mắt trở thành nơi chăm chút rừng cho những mục đích lâu dài. Bây giờ không thể gặp ở Đồng Rui những căn nhà lá chất đầy củi cây sú, cây mắm, cây trang ở đầu hồi làm củi đun như trước kia nữa. Chặt một cây trong rừng ngập mặn có thể bị phạt tới hàng trăm ngàn đồng. Nhưng quan trọng là ai cũng ý thức được việc trồng và bảo vệ, giữ rừng như giữ cây trong vườn nhà, không ai còn chặt phá nữa. Hơn 80% dân đảo hiện nay sống bằng nghề khai thác bãi triều cho nên bảo vệ rừng là vấn đề sống còn.
Đồng Rui là bài học về phá rừng ngập mặn. Có lẽ bài học đó thấm sâu ở đây hơn hết vì nó trực tiếp mang lại cuộc sống hoặc là ổn định lâu dài hoặc là đói nghèo lay lắt cho dân toàn xã đảo. Nơi đây đang trở thành miền đất hứa cho những người gặp ngõ cụt ở rừng. Không chỉ phục sinh cho dân cư ở đây, hòn đảo đang phục sinh lại chính mình.
Trương Thúy Hằng
