Ngày nay vẫn có những người đến cái chợ này để thấm lại chất Bắc của những người đàng ngoài sớm ly hương.
– Bà ơi, bán cho tôi cái ấm tích.
– Ông dùng loại nào? Nhỏ, trung hay lớn? Ấm tích của tôi tốt lắm, có cả cái ủ, cả ngày vẫn nóng.
– Cám ơn bà, cho tôi cái trung, mùa này Sài Gòn cũng hơi se lạnh, tôi mua về nấu nước chè xanh rồi ủ cho ông cụ nhà tôi.
Bà Hinh bán hàng ở chợ Xóm Mới. Ảnh: Phan Quang
Người đàn bà độ tám mươi, nụ cười phúc hậu với hàm răng đen nháy đon đả gói hàng rồi đưa cho người đàn ông nhỏ hơn mình mươi tuổi. Giọng Bắc rặt. Giữa chợ Sài Gòn, nghe như đang ở Hà Đông. “Đúng là quê tôi ở Hà Đông đấy cô ạ, bà kể. Tôi tên Nguyễn Thị Hinh, vào đây từ năm 1954, đi cả dòng họ; từ ngày ấy tôi chưa về lại quê. Tôi, chồng tôi và đứa con nhỏ mới sáu tháng tuổi, cùng vài gia đình đi bằng máy bay. Vào đến nơi, nhà tôi còn 3.000 đồng, mua luôn căn nhà nhỏ này, chung quanh là đồng cỏ dại. Trắng tay mà may vẫn còn chỗ ở”.
Từ đó bà đi hái rau bán, ông thì đi tết bánh pháo thuê, mấy chục năm trời. Bà bảo: “Làm mười đồng chỉ dám ăn một đồng, người Bắc mình thế đấy. Quanh năm cứ rau muống chấm nước mắm, độc món. Đến giờ già rồi, bao nhiêu thức ăn ngon, chẳng ăn được nữa. Nhưng cũng vẫn làm mười đồng mà chỉ dám ăn một đồng thôi, không thì con cái nó lấy gì mà xin”.
Bà có được cả thảy chín đứa con, mất một đứa.
Tôi đếm trong câu chuyện không đầu không đuôi của bà Hinh, có đến gần chục từ: “Người Bắc mình”.
Bà cho biết mấy đứa con bà sinh trong Nam đều nói giọng Bắc, nhưng không biết tiện tặn. Làm bao nhiêu ăn bấy nhiêu. Bà nói thêm: “Ngay hàm răng đen của tôi, nhuộm từ hồi còn ở quê, vào đây hơn mấy chục năm rồi, vẫn không đổi. Giờ thì chúng nó thay răng vàng, răng bạc, răng giả răng niềng… trông thế mà chẳng đẹp đẽ gì. Thời bà tôi mẹ tôi răng đen bóng, cười xinh hơn hoa”.
Tôi nhìn đôi đũa cả, hỏi bà bán bao nhiêu, bà bảo rẻ thôi, nhưng tre trong này không già bằng tre Bắc, vì thế, để lâu dễ mục. Bà chọn cho tôi đôi đũa cả thật trơn tru rồi nói thêm: “Xới cơm mà không có đũa cả như nhà không có nóc!” Tôi nghe mà giật mình, vì đã bao lâu nay, không chỉ tôi mà biết bao người bạn mà tôi biết, kể cả người Bắc hẳn hoi, đâu còn dùng đến đôi đũa cả xới cơm nữa. Cơm nấu nồi điện, chín rồi thì lấy muỗng xúc cơm đánh tơi cơm, rồi xúc, có người còn không thèm đánh. “Thế thì còn gì là bữa cơm nữa!”, bà phàn nàn khi nghe tôi nói vậy. Bà lại trở về với dòng chảy quá khứ: “Các anh các chị bây giờ học Tây không nhớ đến phận làm con hay chút lễ nghi gia đình tối thiểu là trong bữa cơm. Ngày xưa chúng tôi được dạy rất kỹ, đứa trẻ nào lớn lên trong gia đình Bắc xưa cũng vậy cả. Đến bữa cơm biết mình ngồi ở đâu, con gái lớn, con dâu thảo biết xới cơm thế nào cho phải phép. Ăn cơm biết mời, gắp thức ăn biết nhường nhịn… Ngày xưa các cụ đến nhà ai, chỉ cần nhìn người trong bữa cơm, các cụ biết rõ nề nếp gia phong của gia đình ấy”.
Bà chỉ cái rổ vo gạo, cho rằng bây giờ những thứ này ít người dùng, nhưng gạo mà vo trong rổ đan bằng tre này, rồi sàng, rồi sẩy, khi bỏ vào nồi nước sôi, nghe ngay mùi hương lúa, ăn bát cơm mà thương cha thương mẹ ra đồng. Bà kể tiếp: “Có hôm vì mải chơi, quên nấu cơm, sợ bố mẹ về đánh, tôi đổ luôn gạo vào nồi nấu cho nhanh. Mẹ tôi về trước cửa đã bảo: “Cơm hôm nay mùi nồng quá, con Hinh lại mải chơi quên vo gạo rồi!” Bà nói với ký ức, với dòng chảy quá khứ hiện về. Lâu lâu bà lại nhìn ra cửa.
Ở đấy có vạt nắng chiều của những ngày đầu xuân chiếu trên những bình ấm tích bày trước cửa hàng, nghe như nốt lặng của thời gian đọng vào giọt nước chè xanh vương vãi. Tôi dắt xe ra khỏi cửa hàng bà Hinh, văng vẳng bên tai: “Nhớ lấy đũa cả xới cơm, cháu ạ!” lẫn với tiếng gọi mời của chị hàng rau chợ Xóm Mới: “Chợ chiều rồi lấy giùm em bó rau mồng tơi này nha!”…
Ngân Hà