Theo bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội tư vấn Thuế Việt Nam, muốn đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, ngoài thuế bảo vệ môi trường (BVMT), cần có cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp (DN) cải tiến công nghệ.
CôngThương - Luật Thuế BVMT được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2010 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2012. Mục đính chính của Thuế BVMT là gì, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội tư vấn Thuế Việt Nam
Việc đánh thuế vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường sẽ khuyến khích DN đầu tư đổi mới công nghệ nhằm giảm tác động đến môi trường. Đồng thời, do Thuế BVMT là thuế gián thu nên người tiêu dùng để tránh bị đánh thuế, sẽ có xu hướng tìm kiếm các sản phẩm sạch thay thế, làm thay đổi thói quen tiêu dùng của họ.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng thêm các khoản thu khác để cùng BVMT tốt hơn, chứ không chỉ hy vọng vào mỗi thuế và phí. Đương nhiên khoản này vô cùng quan trọng bởi xuất phát từ mục đích BVMT, tăng cường ý thức của người sử dụng và định hướng người sử dụng BVMT.
Không ít DN và người dân băn khoăn, thuế BVMT sau khi thu sẽ được chi như thế nào?
Một trong những nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là thuế, trong đó có thuế BVMT. Trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước thì khoản thu đó có thể nằm trong giá. Nhà nước sẽ tập trung thu lại và phân bổ chi sẽ theo mục đích, ví dụ: chi cho an sinh xã hội, chi BVMT, chi cho giáo dục…
Thuế BVMT đặt mục tiêu đầu tiên không phải là thu ngân sách nhà nước mà là hướng dẫn, định hướng sản xuất và tiêu dùng. Tiền thuế thu đưa vào ngân sách chung. Cụ thể, ta không tách ra đây là thuế thu nhập cá nhân, thuế BVMT mà là tính chung trong phần thu. Sau đó chia bổ ra phần thu và toàn bộ khoản thu của ngân sách nhà nước về BVMT nhỏ hơn khoản chi của ngân sách nhà nước để thực hiện cho mục tiêu này.
Việc chúng ta đưa ra Luật Thuế BVMT như vậy có làm nhà đầu tư cảm thấy “nản” khi vào Việt Nam?
Vừa qua, chúng ta phát hiện vụ vi phạm của Vedan - DN có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng thực tế, không chỉ có DN có vốn đầu tư nước ngoài vi phạm, mà còn rất nhiều các DN trong nước cũng đã vi phạm. Khi Luật có hiệu lực, sẽ không phân biệt DN có vốn đầu tư nước ngoài hay DN trong nước. Qua vụ việc Vedan, các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải có ý thức BVMT ở những nước họ đã đầu tư. Chúng ta đưa ra Luật, không chỉ để BVMT và người dân Việt Nam mà còn bảo vệ chính các nhà đầu tư.
Theo bà, sẽ có vướng mắc nào về kỹ thuật khi Luật Thuế BVMT có hiệu lực?
Luật điều chỉnh một số nhóm hàng hóa: Xăng, dầu, mỡ nhờn; than đá; dung dịch HCFC; túi ni lông. Một số loại thuốc hạn chế sử dụng như: thuốc diệt cỏ, thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho. Tuy nhiên, một số nhóm vẫn tiếp tục thực hiện các khoản thu phí như: phí BVMT đối với chất thải rắn; phí BVMT đối với khai thác khoáng sản: đá, than đá, than bùn, quặng khoáng sản kim loại... Điều đó cho thấy, Luật Thuế BVMT chú trọng hơn đến tác động của các loại chất thải.
Trong Luật, cũng đưa ra những thuật ngữ, ví dụ như thuốc diệt cỏ, nhưng để đưa ra định lượng cụ thể về mức độ nguy hiểm, hay mức độ tác động thì cũng khó. Vì vậy, các quy định trong Luật nhằm BVMT và đảm bảo các lĩnh vực sản xuất liên quan phát triển bình thường. Tuy nhiên, quá trình giám sát và thực thi thuế BVMT cần phải chặt chẽ để phát huy tính hiệu quả của Luật, tạo cơ sở, điều kiện thuận lợi cho DN hướng đến phát triển bền vững.
Xin cảm ơn bà!