Điểm yếu trong ý thức về biển của vua Minh Mệnh (II)

Kienthuc.net.vn - 02/01/2010 07:32

Diem yeu trong y thuc ve bien cua vua Minh Menh (II)

- Sự hiểu biết của vua Minh Mệnh về thế giới bên ngoài quá hạn chế, những gì mà ông học được ở kỹ thuật phương Tây cũng quá thiển cận, triều Nguyễn đã tụt hậu cả một thời địa so với phương Tây.

Học tập hàng hải biển để phòng khi cần

Vua Minh Mệnh từng tỏ ý rằng, việc ông cử tàu thuyền và quan viên ra nước ngoài làm mậu dịch, đi Hạ Châu và Tiểu Tây Dương không nhằm mục đích làm buôn lấy lợi là chính, mà để tìm hiểu tình hình nước ngoài. Những năm đầu thời kỳ Minh Mệnh. Ông còn cử binh lính kinh đô ra nước ngoài “học tập hàng hải biển để phòng khi cần”.

Tìm hiểu mục đích ra nước ngoài của tàu thuyền và quan viên Việt Nam, ta thấy các nước hải đảo Đông Nam Á và phía đông Ấn Độ Dương đều đã bị thực dân phương Tây thống trị, cho nên vua Minh Mệnh đã quan tâm tình hình những vùng này để đề phòng khi có việc.

Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), nhân khi sử giả Xiêm sang Việt Nam cáo tang, vua Minh Mệnh cùng các đình thần bàn về việc “Hồng Mao” tấn cộng Miến Điện với thái độ của người Xiêm, các đình thần chỉ thấy sự thù hằn bao đời giữa Xiêm và Miến Điện, do đó cho rằng người Xiêm tất nhiên vui mừng.

Nhưng vua Minh Mệnh cho rằng: “Nước Xiêm có Miến Điện như nhà có vườn hoa. Nếu Hồng Mao tấn công và thắng Miến Điện thì nhất định sẽ tấn công Xiêm. Việc đó nếu lo kế cho Xiêm thì là việc đáng lo chứ không phải đáng mừng” (7).

Vua Minh Mệnh còn không ngừng tìm hiểu tình hình Trung Quốc bằng cách triều cống định kỳ và thỉnh thoảng cử tàu thuyền sang Quảng Châu và Hạ Môn Trung Quốc. Ông đã ý thức được mối đe dọa của phương Tây qua tìm hiểu tình hình những nước châu Á liên tục trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây và tình hình đang thay đổi ở Trung Quốc.

Ông cho rằng, việc nhà Thanh vì ngân thuế trước mắt mà lập 13 thương hàng cho phép phương Tây đổ bộ làm mậu dịch kế sai lầm, và sự tràn lan khó mà cấm được cũng là do nhà Thanh tự dẫn vạ vào thân.

Ông còn trình bày một cách ngây thơ “thuận lòng ngừa người phương Tây” của mình, tức “không từ chối họ đến, cũng không theo họ đi, cứ coi họ là man di thôi. Nếu có người phương Tây sang mậu dịch thì chỉ cho phép họ mậu dịch ở những nơi quy định như cảng Đà Nẵng và Sơn Trà, xong thì bảo họ đi, không cho phép họ cư trú trên bờ, cũng không cho phép nhân dân làm buôn với họ để tránh việc bé xé ra to”.

Ông còn nói: “Việc phòng chống Ma di tất nhiên có biện pháp riêng, nếu ta đề phòng cẩn thận thì làm sao có việc gì xảy ra” (8). Ngoài ra, vua Minh Mệnh yêu cầu Trương Đăng Quế học tập đội hình thủy chiến của phương Tây cũng nhằm mục đích “đề phòng trước khi sự việc xảy ra” (9).

Phòng ngự bờ biển

Nửa sau thời kỳ Minh Mệnh, Việt Nam đã xa cách chiến loạn mấy chục năm, vì thời bình lâu năm, không ít sĩ phu lạc quan một cách mù quáng, vua Minh Mệnh và một số sĩ phu tỉnh táo đã ý thức được phần nào về mối nguy cơ nghiêm trọng.

Cảng Quảng Nam - Đà Nẵng là nơi neo đậu của tàu thuyền phương Tây sang mậu dịch ở Việt Nam, vua Minh Mệnh cho rằng, nơi đây “là nơi xung yếu nhất của cõi biển, tàu thuyền phương Tây sang nhất định đi qua nơi đây” (10), cho nên ông lệnh cho xây dựng các pháo đài Trấn Hải, Điện Hải và Định Hải… tăng cương công sự phòng thủ.

Vua Minh Mệnh cho rằng phòng chống xâm lược của phương Tây thì ngày thường phải cẩn thận, không thể cho người phương tây nắm biết hư thực của ta. Năm 1840, quan Đô sát viện Võ Đức Khuê tâu rằng, các nước Man di phương Tây “lấy việc buôn bán lập nước”, “thấy lợi tất tranh, không nghĩ đến nghĩa”, “nếu có lợi thì họ ắt sẽ dốc hết sức để trục cho được”.

Các nước nhỏ xung quanh Xá Bà đều bị họ thôn tính. Nước Đại Thanh vừa cho phép thông thương cũng gặp nhiều phiền phức, phương Tây “Tàu chiến làm cho vùng Phúc Kiến và Quảng Đông lộn xộn”, sẽ trở thành “cơn bệnh khó chữa ở phía Đông” của nhà Thanh.

Cho nên, ông đề nghị, để “tránh nạn bất ngờ”, nên cấm mọi việc thông thương với các nước Man di, ngay cả mậu dịch hạn chế bao gồm tàu thuyền chính phủ xuất dương và tàu thuyền phương Tây sang Việt Nam làm buôn bán đều cấm hết. :Chúng ta nên tự cấm đi lại trước… như thế thì phòng thủ của ta mới vững chắc” (11).

Tuy vua Minh Mệnh bác bỏ đề nghị cấm thông thương với phương Tây của Võ Đức Khuê nhưng lại đồng ý quan điểm “tránh việc bé xé ra to” của ông. Đồng thời vua Minh Mệnh còn coi trọng cải cách binh chế, yêu cầu thủy quân học tập chiến thuật thủy chiến của phương Tây, ngày đêm tập dợt để tăng sức chiến đấu phòng ngự biển.

Ý thức trong việc nâng cao kỹ thuật hàng hải

Để xây dựng thủy quân hùng mạnh, phát triển hàng hải bảo đảm vận tải đương thủy ven biển, vua Minh Mệnh dành sự quan tâm theo dõi đặc biệt cho việc đóng tàu các loại và nâng cao kỹ thuật hàng hải. Trong thời kỳ Minh Mệnh, việc triều đình đóng nhiều tàu biển, đẩy mạnh học tập và huấn luyện về kỹ thuật hàng hải đều gắn chặt với những nhận thức và yêu cầu trên đây của vua Minh Mệnh.

Trong nhận thức của ông, sự phát triển của thủy quân trước hết phải nhờ vào những con tàu đắc lực, thứ đó phải có những thủy thủ quen thuộc kỹ thuật. Ông từng dụ cho bộ Công rằng: “Việc lớn của thủy quân là tàu thuyền, trong đó việc chỉ hướng, trắc thủy và đo giờ là những nhân tố đặc biệt quan trọng cho việc hàng hải” (12).

Vua Minh Mệnh cho rằng, người hàng hải phải thuộc hải trình, cho nên ông yêu cầu bộ Công biên tập cuốn Hải trình tập nghiệm sách trên cơ sở tra tập các sách. Nội dung bao gồm 4 mục là “tóm tắt về mưa gió”, “những điều kiêng kỵ khi chạy tàu thuyền”, “những điều kiêng kị khi đóng tàu thuyền” và “tập nghiệm những việc đã qua” tập trung những tai nạn tàu thuyền lại, và lệnh cho các nơi ven biển vẽ “bản đồ của biển trong vùng hải phận của mình”, cùng phát cho thủy quân và những người có liên quan học tập.

Ông cho rằng, việc hàng hải lấy thủy thủ làm then chốt, cho nên yêu cầu tăng cường đào tạo và khảo hạch cho thủy thủ, do bộ Công biên soạn cuốn Thủy sư đà công khóa tích thưởng phạt lệ. Ông nói: “ Nước ta nhiều nơi ven biển, tàu thuyền thủy quân là quan trọng nhất. Hành động của họ trông vào thủy thủ, và thủy thủ là người thầy của một con tàu vì họ quen biết hải trình và hiểm trở” (13).

Ngoài ra ông còn lệnh cho thủy quân phải mang theo đồ đo giờ để tính thời gian, địa bàn Tây Dương để đo hướng và thuốc viên đo nước để đo độ sâu của nước. Ông yêu cầu quan viên và binh lính thủy quân đều biết “cách đo nước bói non”, “cách tránh gió”, có khả năng “nắm địa bàn can chi được chia trên địa cầu” và “biết xem chỉ nam và phân biệt hướng đi”...

Điểm xuất phát cơ bản trong ý thức về biển của vua Minh Mệnh là tìm hiểu thế giới bên ngoài qua biển, học tập những kỹ thuật tiên tiến của phương Tây, tăng cương xây dựng phòng ngự biển, phòng chống nguy cơ xâm lược từ biển của phương Tây và mong rằng hoạt động biển và phòng ngự bờ cõi biển của ông được trời và thần biển trợ giúp để triều Nguyễn được bình yên.

Nhưng sự hiểu biết của vua Minh Mệnh về thế giới bên ngoài quá hạn chế, những gì mà ông học được ở kỹ thuật phương Tây cũng quá thiển cận, triều Nguyễn đã tụt hậu cả một thời địa so với phương Tây. Ít lâu sau thời Minh Mệnh, với những tuyến phòng ngự biển và những con tàu bọc đồng kiên cố không thể chống nổi những con tàu chạu bằng lửa và hỏa khí của phương Tây, Việt Nam đẫ không tránh khỏi vận mệnh trở thành thuộc địa của phương Tây.

Theo Vu Hướng Đông Giám đốc Sở Nghiên cứu Việt Nam – Trường Đại học Trịnh Châu Trung Quốc (Tạp chí Xưa và Nay tháng 11/2009)

Tin mới