Thực tế khi xem những vở chèo hiện đại, nhiều người chán nản nhận xét: “Không hay bằng chèo cổ. Chèo hiện đại quá khô khan không ăn nhập với các làn điệu chèo”. Nhận xét này khi đem ra phân tích thấy cũng có nhiều lý lẽ đáng quan tâm. Sự khô khan có lẽ đến từ việc sử dụng quá nhiều lời thoại trong các vở chèo nên khiến “xem hát chèo như xem kịch chèo?”.
Các cụ xưa cũng sử dụng lời thoại đan xen cùng các làn điệu chèo nhưng đó đều là các câu nói được viết theo thể thơ, dùng cách nói vần, ngâm, vỉa để mang lại cho vở diễn sự mềm mại, uyển chuyển.
Nhưng nếu bê y nguyên hoặc rập khuôn câu nói thường ngày theo lối văn nói sẽ là một lỗi lớn khi đưa vào diễn trên chiếu chèo. Chúng cần được tỉa tót sao cho thật ấn tượng và mang tính khái quát cao. Bên cạnh đó, tính hề trong chèo cũng giữ vai trò rất quan trọng làm nên “chất” riêng của chèo. Hề chèo hoàn toàn khác với các loại hình sân khấu khác, và trong chèo khó mà thiếu được nhân vật hề.
Có thể nói rằng, việc xây dựng 2 nhân vật hề “Kín” và “Hở” trong vở chèo “Chiến trường không tiếng súng” thật sự là một nút thắt quan trọng tạo nên một vở diễn hay. 2 nhân vật này đã dẫn dắt người xem bước vào các tình huống kịch gay cấn thật ngọt. Có rất nhiều xung đột kịch đã diễn ra nhưng người xem vẫn thấy nhẹ nhõm khi tiếp thu vì có tiếng cười. Cười đấy nhưng lại đầy thâm thúy và triết lý.
Và điều này cũng chứng tỏ rằng, việc xây dựng các nhân vật hề mồi, hề gậy vẫn cần được tuân thủ nghiêm ngặt khi dựng các vở chèo hiện đại. Nếu thiếu đi yếu tố này, chèo sẽ mất đi tính trào lộng đặc trưng của mình để phân biệt chèo với cải lương (mang tính bi lụy), chèo với tuồng (mang tính kiêu hùng).
Ngay như vở chèo mang tính trữ tình nhất về tâm tư tình cảm, ca ngợi tình bạn cao đẹp là vở “Lưu Bình Dương Lễ” cũng có những anh hề theo hầu, rồi các cô hàng xóm vui nhộn để làm cho vở diễn không trở nên nặng nề.
Xét cho cùng, một vở diễn muốn hay cần có một kịch bản tốt. Các cụ xưa đã nói “có tích mới dịch nên trò” vì thế, ở các vở chèo cổ, các nghệ sĩ dân gian đã đưa ra những yếu tố lạ để nói lên bản chất của vấn đề. Cô Thị Mầu lại đi yêu cô Thị Kính đã là một cái lạ. Rồi trong vở Lưu Bình Dương Lễ, nếu là ngoài đời thực, không ai lại cho vợ mình đi chăm bạn. Nhưng đấy lại chính là điểm để người ta còn nhớ mãi, và các vở chèo như vậy đã trở nên kinh điển.
Còn ở các vở chèo hiện đại phần lớn mới chỉ dừng lại ở việc kể một câu chuyện mà chính xác ra thì người ta chỉ gọi đấy là ca cảnh chèo hoặc hoạt cảnh chèo. Hơn nữa, việc không có được kịch tính trong chèo cũng giải thích cho việc lời thoại nhiều hơn các làn điệu hát. Người diễn viên không thể hát và hát một cách ngọt ngào khi không xảy ra các mâu thuẫn, các tình huống chuyện.
Chèo hiện nay đang gặp khủng hoảng về kịch bản. Những người biết các làn điệu chèo thì lại không viết được kịch bản, mà những người viết được kịch bản lại không biết chèo thành ra để có một kịch bản chèo lại phải viết qua kịch bản văn học sau đó mới chuyển thể sang kịch bản chèo.
Điều đó dẫn đến việc kịch bản chuyển thể sẽ xa rời với kịch bản nguyên gốc. Theo ông Hà Quốc Minh - Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam: “Việc dàn dựng các vở chèo hiện đại có nhiều cái khó. Đã có rất nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm để tìm ra một cách làm một hướng đi cho chèo hiện đại nhưng đến giờ vẫn chưa ngã ngũ.
Nhưng tôi nghĩ rằng, chỉ cần một vở chèo hội tụ được đầy đủ 3 yếu tố: tích truyện, xây dựng tính cách nhân vật và sự kiện là có thể sánh ngang với các vở chèo cổ đã từng ăn sâu, bám rễ trong tiềm thức của khán giả Việt Nam”.