>> Thăng trầm giá xăng
Bộ Công Thương và Bộ Tài Chính vừa đồng tổ chức cuộc hội thảo cả ngày 29/7/2009 tại Hà Nội rất “hoành tráng” nhằm lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, Ngành, cũng như các nhà khoa học và báo chí cho Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2007/NĐ-CP (dưới đây viết tắt là Dự thảo) về kinh doanh xăng dầu…Quy mô đông đảo và thành phần tham dự Hội thảo rộng rãi, cũng như sự kiên trì bám trụ của cử tọa, bất chấp không khí khá căng thẳng do bất đồng quan điểm là bằng chứng cho thấy sự quan tâm của giới tiêu dùng và xã hội đến vấn đề đang là tâm điểm bức xúc và nhậy cảm hiện nay trong đời sống kinh tế-xã hội nước nhà.
Ảnh: timmuaoto
Nếu bỏ qua những tuyên bố chắc nịch, đầy ấn tượng và gây sửng sốt cho người nghe của vị Thứ trưởng Bộ Công Thương chủ trì trong cuộc Hội thảo, như: “Không có bằng chứng cho thấy sự độc quyền trong kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ trên 60% thị phần của Petromex là hoàn toàn không có ý nghĩa gì trong tạo lập và dẫn dắt động thái thị trường xăng dầu trong nước ”; “ sẽ không có việc cổ phần hóa 6000 điểm bán lẻ xăng dầu trên cả nước vì Nhà nước đã đầu tư rất nhiều tiền để xây chúng”; “ trong 2 năm qua, dù giá xăng lên hay xuống thì Nhà nước luôn bị lỗ, ngành kinh doanh xăng dầu luôn bị lỗ, chỉ có người tiêu dùng trong nước là người duy nhất được lợi…”; hay như việc vị Thứ Trưởng này lớn tiếng phê phán gay gắt một vị PGĐ Sở Công Thương của 1 tỉnh tiếp giáp với Hà Nội là “không hiểu rõ nhiệm vụ chính trị của ngành kinh doanh xăng dầu và cùng là lãnh đạo ngành Công Thương mà lại đi đòi CPH những điểm kinh doanh xăng dầu của Nhà nước ” , và việc ông cũng bác bỏ thẳng thừng những phương án mới và đề xuất của ai đó vừa đưa ra nhằm hoàn thiện Dự thảo là “ không có tính khoa học “ vì không trúng ý mình v.v…và v.v…, thì việc đọc kỹ Dự thảo, nhất là cả 3 phương án quản lý giá xăng dầu được cả 2 Bộ đưa ra lấy ý kiến lần này, cũng khiến người ta không khỏi băn khoăn liệu có đạt được hay không mục tiêu mà Dự thảo đã xác định rõ, là: “Bảo đảm để giá xăng dầu vận hành theo cơ chế thị trường, thúc đẩy quá trình hội nhập có hiệu quả về giá xăng dầu với thị trường khu vực và thị trường thế giới; tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện quyền tự chủ về giá và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Đồng thời, đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước về giá hướng vào việc khắc phục tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh về giá, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội. Bình ổn giá, ngăn ngừa tác động tự phát của giá thị trường thế giới vào hệ thống giá trong nước, đẩy giá trong nước tăng quá cao hoặc giảm quá thấp không hợp lý; khuyến khích cạnh tranh về giá”…
3 nút thắt
Nói cách khác, dường như có những bất cập không khó nhận thấy giữa mục tiêu đúng đắn trên đây với những phương án cụ thể được đề xuất trong cơ chế quản lý giá xăng dầu theo Dự thảo, mà có thể nêu ra 3 nút thắt chủ yếu sau:
Thứ nhất, cần xác định rõ và bóc tách giữa 2 nhiệm vụ về bản chất khác hẳn nhau là: Kinh doanh xăng dầu như mục đích tự thân của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu , với việc Dự trữ xăng dầu bảo đảm an ninh năng lượng như một mục tiêu chính trị quốc gia.
Chính việc “mập mờ đánh lận con đen” này dễ là kẽ hở, là bình phong và cơ hội vàng khiến cho các công ty kinh doanh xăng dầu có nhiệm vụ dự trữ xăng dầu bao biện, lạm dụng và tranh thủ “hớt lãi và dồn lỗ” cho Nhà nước, cũng như trì hoãn các điều chỉnh giá cần thiết bắt buộc gây bức xúc xã hội trong hoạt động kinh doanh xăng dầu của mình nhân danh vì “mục tiêu chính trị” mà họ đảm nhận.
Như vậy, cần thiết phải có bổ sung trong Dự thảo phần nội dung mới về Dự trữ xăng dầu độc lập bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; Đồng thời, cần giao việc dự trữ này cho ngành Dự trữ quốc gia, hoặc chí ít cũng cần bóc tách rõ ràng nhiệm vụ và các hạch toán có liên quan đến dự trữ xăng dầu khỏi hoạt động kinh doanh xăng dầu của ngành xăng dầu bằng các quy định bổ sung chặt chẽ, dễ thực hiện và kiểm tra, nhằm giảm thiểu sự lạm dụng, trục lợi có thể xẩy ra gây tổn thất chung cho Nhà nước và người tiêu dùng, cũng như tránh gây khó khăn cho công ty kinh doanh xăng dầu hạch toán hoạt động theo nguyên tắc thị trường…
Ảnh: tinthuongmai
Thứ hai,
cần xác định được giá sàn và giá trần trên cơ sở phân nhóm đúng vai trò của từng nhân tố cấu thành giá bán lẻ xăng dầu.
Ưu điểm lớn nhất của Dự thảo là lần đầu tiên đưa ra được công thức tính giá cơ sở của xăng dầu: Giá bán lẻ xăng dầu = (Giá CIF+Thuế nhập khẩu+Thuế tiêu thụ đặc biệt) xTỷ giá ngoại tệ+VAT+Phí xăng dầu+Mức trích Quỹ bình ổn giá+các loại thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo luật đinh nếu có+chi phí kinh doanh+lợi nhuận định mức;
Tuy nhiên, công thức trên chưa phản ánh được giá gốc tối thiểu, tức giá sàn của giá bán lẻ xăng dầu trong nước, để làm căn cứ dự báo và điều hành giá, bảo đảm Nhà nước không bao giờ còn phải bù lỗ xăng dầu và người tiêu dùng cũng thoải mái chấp nhận giá bán lẻ xăng dầu. Nguồn gốc vấn đề là Dự thảo chưa phân nhóm đúng vị thế các yếu tố cấu thành giá cơ sở trên để từ đó có quy định thời gian và mức độ điều chỉnh tăng giảm giá bán lẻ xăng dầu.
Nói cách khác, cần tổ hợp lại các yếu tố cấu thành giá xăng dầu nêu trên theo nguyên tắc mới, gồm 2 phần cứng (A) và mềm (B); Trong đó:
A= chi phí tối thiểu= (CIF+chi phí kinh doanh) x tỷ giá ngoại tệ = phần cứng của giá bán lẻ xăng dầu; trong đó các giá CIF và chi phí kinh doanh phải là ở mức tốt nhất có thể, thông qua đấu thầu công khai hoặc mức trung bình tiên tiến có độ minh bạch cao và được kiểm toán độc lập;
B= chi phí khác = Thuế Nhập khẩu+Thuế tiêu thụ đặc biệt+VAT+Phí xăng dầu+Mức trích Quỹ bình ổn giá+các loại thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo luật định nếu có+lợi nhuận định mức = phần mềm của giá bán lẻ xăng dầu, trong đó các cấu thành này do Nhà nước quy định linh hoạt tùy theo mục tiêu chính sách và phù hợp các động thái cụ thể của thị trường trong nước và quốc tế trong từng thời gian xác định;
Khi đó:
Giá bán lẻ xăng dầu tối thiểu = giá sàn =A
Giá bán lẻ xăng dầu tối đa = giá trần = A + B
Như vậy, việc phân tổ công thức tính giá theo cách thức mới trên cho phép định vị được khung giá bán sàn và trần một cách tự động, khách quan, giúp người tiêu dùng và doanh nghiệp dễ định hướng giá theo xu hướng giá thế giới và Nhà nước vừa có nhiều công cụ can thiệp vào giá xăng dầu (thông qua điều chỉnh mức các loại thuế, phí, tỷ giá, nghĩa vụ tài chính, lợi nhuận định mức và các tiêu chuẩn kỹ thuật khác cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu), vừa không còn phải bù lỗ cho kinh doanh xăng dầu nữa. Hơn nữa, việc này còn thúc đẩy cạnh tranh về giá trên cơ sở các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đẩy mạnh tiết kiệm chi phí mua và phân phối xăng dầu.
Thứ ba, cần cho phép tự động điều chỉnh giá bán lẻ xăng đầu theo xu hướng và cạnh tranh thị trường, đồng thời tăng cường các chế tài Nhà nước và giám sát xã hội.
Dự thảo dường như vẫn bị chi phối bởi quán tính theo cơ chế xin-cho cũ khi cố gắng một cách đầy chủ quan thiết kế các mức tăng giảm và tần xuất tăng giảm giá bán lẻ xăng dầu với một loạt thủ tục hành chính khẳng định quyền lực của ngành Công Thương và Tài chính…
Hơn nữa, Dự thảo còn chưa quy trách nhiệm rõ ràng và cụ thể cho doanh nghiệp, cho Nhà nước và các yếu tố khác trong quá trình tăng giảm giá bán lẻ xăng dầu, đặc biệt, chưa có sự bảo đảm cho doanh nghiệp không phải chịu thiệt hại từ những lỗi không phải do mình, và cũng không được phép hưởng những khoản lợi không phải do công sức của mình.
Điều này thể hiện đậm nét ở nguyên tắc “tù mù” nhất mà Dự thảo nêu ra: “ Trường hợp các yếu tố cấu thành làm cho giá cơ sở giảm (hoặc tăng) đến 3% so với giá bán lẻ hiện hành thì doanh nghiệp được phép (hoặc phải) giữ ổn định giá”. Đây là một kẽ hở lớn để doanh nghiệp hưởng đặc lợi. Ví dụ, khi Nhà nước giảm thuế kinh doanh xăng dầu hoặc giá thế giới giảm khiến giá bán lẻ xăng dầu giảm dưới 3%, thì đương nhiên doanh nghiệp hưởng “lộc Giời” vì không buộc phải giảm giá trong bối cảnh không có cạnh tranh đầy đủ. Chính đây còn là kẽ hở cho các hoạt động Lobby trong tương lai.
Ngược lại, khi giá thế giới hoặc thuế và các chi phí khác tăng dưới 3% thì doanh nghiệp lại chịu thiệt hại vì không được tăng giá tương ứng; và chắc chắn doanh nghiệp sẽ phá sản, nếu gặp phải một chuỗi tăng giá kiểu” nhỏ giọt” này trong tương lai…
Ảnh: pec.com
Như vậy, điều cần thay đổi ở đây là, sau khi phân tổ lại các yếu tố cấu thành giá cơ sở theo 2 nhóm A và B nêu trên, cần cho phép doanh nghiệp tự động điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu theo mức tăng, giảm tương ứng của từng nhân tố (trong đó buộc phải điều chỉnh tức thời với mức bằng các mức ấn định mới của Nhà nước cho các nhân tố thuộc nhóm B, và cho phép có độ trễ thời gian, cũng như mức điều chỉnh phụ thuộc quy định về thời hạn và giá bình quân của số ngày dự trữ lưu thông theo quy định hiện hành), sao cho giá bán lẻ xăng dầu mới luôn nằm trong khung giá sàn (A) và giá trần (B) đã nêu trên, mà không cần các thủ tục xin-cho phép nào, chỉ cần doanh nghiệp giải trình minh bạch và công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và báo cáo lên cơ quan chủ quản là đủ.
Khi đó, nhiệm vụ của cơ quan quản lý giá Nhà nước và các hoạt động giám sát xã hội khác là tăng cường và thường xuyên kiểm tra xem doanh nghiệp có vi phạm các mức và công thức quy định tính giá bán lẻ xăng dầu của Nhà nước trong thời điểm tương thích như đã nêu trên không, nếu có thì cần truy thu, phạt tài chính và hành chính thật nặng, kể cả truy tố ra pháp luật đối với các vi phạm này như tội danh tham nhũng, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cố ý làm sai, hoặc tương tự...
Ngoài ra, Dự thảo cũng cần bổ sung quy định về nguyên tắc và cách thức Nhà nước thực hiện kiểm soát giá xăng dầu trong các tình huống đặc biệt, đảm bảo an ninh và ổn định chung của đất nước trong bối cảnh thế giới nhiều biến động trong tương lai….
Tóm lại, nếu dũng cảm kiên quyết vượt qua những định kiến dai dẳng và bám sát các yêu cầu phát triển toàn diện, bền vững, thì việc tháo gỡ những nút thắt lợi ích trong quản lý giá bán lẻ xăng dầu (cũng như các mặt hàng còn độc quyền hoặc gần như độc quyền khác,) sẽ cho phép thiết lập và phát triển tốt một cơ chế giá bán lẻ xăng dầu mang tính thị trường ngày càng đậm nét hơn, hiệu quả hơn trong bối cảnh từng bước hướng tới cạnh tranh thị trường đầy đủ có sự quản lý vĩ mô chủ động của Nhà nước.
Đồng thời, cũng cần nhấn mạnh rằng, cơ chế đúng thì dễ thiết kế, cái khó là đưa được nó vào thực tiễn cuộc sống để phát huy hiệu quả, tạo sự đồng thuận xã hội cao, vì sự phát triển “một nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” theo con đường mà chúng ta đã chọn…
TS Nguyễn Minh Phong

