Ngọc Lan
Báo cáo tóm tắt kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được trình bày trước Quốc hội hôm 9-11 cho thấy, bất chấp những cảnh báo, khuyến cáo về những khả năng xấu, mất an toàn nếu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu tư ra ngoài ngành tràn lan, các đơn vị này thay vì rút và giảm phần vốn góp thì lại gia tăng đầu tư với tốc độ và quy mô cao hơn trước.
Theo báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, hiện có tất cả 47 tập đoàn, tổng công ty tham gia đầu tư vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, góp vốn quỹ đầu tư. Số vốn các đơn vị này bỏ ra gia tăng theo từng năm: 6.434 tỉ đồng (cuối năm 2006), 16.190 tỉ (cuối năm 2007) và 21.164 tỉ (cuối năm 2008). Số vốn mà các tập đoàn góp vốn lập ngân hàng và lập các công ty chứng khoán chiếm phần lớn trong tỷ lệ đầu tư này. Có 34/47 doanh nghiệp tham gia đầu tư ở mỗi loại hình góp vốn nêu trên.
Và tính đến cuối năm 2008, hơn 14 ngàn tỉ đồng trong số 21 ngàn tỉ đồng nguồn vốn của nhà nước thay vì được đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh thì lại được các tập đoàn chuyển giao cho các tổ chức tín dụng kinh doanh dưới hình thức kinh doanh vốn, tiền tệ.
Vẫn theo báo cáo trên, đứng đầu tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành là tập đoàn Dầu khí (gần 5.500 tỉ đồng, chiếm 26% tổng số tiền các tập đoàn, tổng công ty đầu tư vào lĩnh vực tài chính năm 2008). Tiếp theo là tập đoàn Điện lực. Ngoài ra, Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn đầu tư vào 17 công ty chứng khoán, Tổng công ty Linskin đầu tư vào 37 công ty, Tổng công ty cảng hàng không miền Nam đầu tư vào 8 công ty chứng khoán. Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 có hệ số an toàn vốn rất thấp (hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu là 14 lần) cũng đầu tư vào 3 công ty chứng khoán.
Thực tế cho thấy, hiệu suất đầu tư tính gộp chung của 47 tập đoàn, tổng công ty khi đầu tư vào lĩnh vực tài chính ở hai năm mà chứng khoán mang lại lợi nhuận cao đạt mức 7,41% (2006), 9,24% (năm 2007) hay 4,78% (năm 2008) nhìn chung là thấp hơn so với đầu tư vào ngành kinh doanh chính của các đơn vị này.
Năm 2008, khi thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm mạnh, các quỹ đầu tư có giá trị tài sản ròng giảm phổ biến từ 40% đến 60%, các loại chứng khoán và các khoản đầu tư góp vốn trong danh mục đầu tư của một số đơn vị bị ảnh hưởng, phải thực hiện đánh giá lại và trích lập dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, các tập đoàn, tổng công ty cũng không báo cáo cho đoàn giám sát việc trích lập dự phòng rủi ro và khoản mục đánh giá lại theo giá trị thị trường giá trị các khoản đầu tư, kể cả khi yêu cầu này được đưa vào biểu mẫu giám sát.
Ủy ban thường vụ Quốc hội kiến nghị tổ chức rà soát, đánh giá lại hoạt động của tập đoàn, tổng công ty để có biện pháp chấn chỉnh, củng cố các tập đoàn, tổng công ty đang gặp khó khăn hoặc hoạt động kém hiệu quả. Đặc biệt chấn chỉnh hoạt động đầu tư tràn lan ở một số đơn vị, nhất là dùng vốn nhà nước đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro khi không có bộ máy, nhân lực thích hợp, gây thất thoát và sử dụng vốn không hiệu quả.
Ở các tập đoàn, tổng công ty có vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế mà đang gặp khó khăn về tài chính, Quốc hội yêu cầu cần làm rõ trách nhiệm của ban lãnh đạo tập đoàn, đồng thời với việc cơ cấu lại theo hướng đánh giá thực chất nhu cầu dùng vốn nhà nước để có cơ chế xử lý. Bên cạnh đó là cần cơ cấu lại tài sản theo hướng chuyển nhượng, sát nhập các dự án, các khoản đầu tư không cần thiết cho hoạt động chính để quay lại tập trung với ngành nghề được giao.