Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đối với sự nghiệp quốc phòng trong thời kỳ mới

QĐND - 17/12/2010 22:55

QĐND - Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đối với sự nghiệp quốc phòng gắn liền với sự hình thành, phát triển của thể chế chính trị dân chủ và nền quốc phòng kiểu mới-nền quốc phòng toàn dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước XHCN quản lý điều hành. Cơ chế đó đã được vận hành và kiểm nghiệm nghiêm ngặt trong thực tiễn, thực sự là một vấn đề chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước ta ở tình thế cùng một lúc phải đối phó với thù trong giặc ngoài, tiềm lực quốc phòng còn yếu kém. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý điều hành của chính quyền nhân dân còn non trẻ, với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ, quân và dân ta đoàn kết một lòng vừa kháng chiến vừa kiến quốc, từng bước tạo nên sự chuyển hóa cả về thế, thời và lực để đánh bại kẻ thù. Trong những năm Đảng ta rút vào hoạt động bí mật (11-1945/2-1951), bộ máy Nhà nước có những người của lực lượng Việt Quốc, Việt Cách và người không đảng phái, có lúc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người ngoài Đảng, nhưng Đảng ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với chính quyền và nhân dân. Tháng 1-1946, Ban chấp hành Trương ương Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và cuộc kháng chiến. Tháng 5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một số sắc lệnh rất quan trọng liên quan đến quốc phòng như Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL, Sắc lệnh số 71/SL… theo đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp (lúc đó là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Quân ủy) được giao trọng trách là Tổng chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội; trong quân đội từ cấp Trung đội đến cấp Trung đoàn có Chính trị viên, cấp Chiến khu có Chính trị ủy viên do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tình thế hiểm nghèo phải thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân nhượng để thêm bạn bớt thù đã kiên định nguyên tắc chiến lược, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân, phát triển lực lượng kháng chiến của toàn dân lấy LLVT nhân dân làm nòng cốt để giành thắng lợi.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đề ra đường lối tiến hành đồng thời cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, có những chỉ đạo chiến lược chính xác, nhạy bén để lãnh đạo chính quyền và động viên toàn dân xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam. Tuy tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (tháng 12-1960), Trung ương Cục miền Nam (tháng 1-1961), Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (6-1969), Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền để giúp Trung ương trực tiếp lãnh đạo, tổ chức cuộc đấu tranh của quân và dân ta ở miền Nam, song toàn bộ cuộc kháng chiến đều do Đảng ta lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, Nhà nước XHCN quản lý điều hành tập trung thống nhất và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Có thể nói đặc điểm lớn nhất, đồng thời là nét đặc sắc nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ là Đảng Cộng sản và Nhà nước XHCN thống nhất lãnh đạo, quản lý điều hành, động viên toàn dân của đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, gắn kết độc lập dân tộc với CNXH, hội tụ được sức mạnh của dân tộc và của thời đại để giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH.

Từ sau Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta có những phát triển về lý luận và thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, cụ thể hóa cơ chế vận hành của thể chế chính trị dân chủ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” vào lĩnh vực quốc phòng như: Khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quốc phòng; Xác định nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm và thẩm quyền của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng ủy Quân sự Trung ướng và các cấp ủy đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; Xác định Nhà nước quản lý điều hành tập trung thống nhất đối với quốc phòng, xây dựng hệ thống luật pháp về quốc phòng, nhất là Luật Quốc phòng (2005); Tăng cường giáo dục quốc phòng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ và nhân dân đối với nhiệm vụ quốc phòng; Bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.Với đường lối đổi mới đúng đắn theo định hướng XHCN, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua “cơn lốc lớn” làm sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, tăng thêm thế và lực mới để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Trong thời kỳ mới, nghiên cứu dự báo nguy cơ liên quan đến quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cho thấy: “diễn biến hòa bình” là vấn đề chủ yếu nổi lên trong chiến lược của các thế lực thù địch nhằm chống phá độc lập dân tộc và CNXH ở Việt Nam, khi có điều kiện và thời cơ chúng có thể tiến hành “Cách mạng màu” để thúc đẩy nhanh việc xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, không loại trừ khả năng xảy ra chiến tranh xâm lược kiểu mới đối với nước ta. Những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên và các lợi ích quốc gia dân tộc tiếp tục diễn ra gay gắt và phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang và chiến tranh cục bộ, nhất là khi các nước lớn có sự mặc cả, thỏa hiệp gây phương hại đến lợi ích của dân tộc ta. Nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ Tổ quốc của chúng ta cần tập trung đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, dập tắt “Cách mạng màu” của chúng, đồng thời chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những yếu tố bất lợi có thể dẫn đến xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ và sẵn sàng đối phó thắng lợi với chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nâng cao hiệu lực cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đối với quốc phòng, tập trung thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau đây:

Chăm lo xây dựng hệ thống chính trị, nhất là tổ chức đảng và chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh, lãnh đạo và quản lý điều hành xã hội có hiệu quả, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, nhất là ở cấp chiến dịch-chiến lược; tăng cường quản lý, giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên để thực sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức và lối sống, năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức thực tiễn, khắc phục nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Tích cực làm trong sạch và lành mạnh hóa cơ quan quyền lực Nhà nước, thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước pháp quyền XHCN, khắc phục nguy cơ tha hóa biến chất do tệ quan liêu, nạn tham nhũng, đặc quyền đặc lợi, xa dân và sách nhiễu dân. Chăm lo củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, phát huy vai trò là cơ sở chính trị của Đảng và chính quyền nhân dân, động viên và tổ chức nhân dân tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là thực hiện tốt chiến lược cán bộ trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cấp chiến dịch-chiến lược. Trong công tác sắp xếp cán bộ từ Ban chấp hành Trung ương Đảng đến các cấp ủy, bộ máy chính quyền và tổ chức chính trị-xã hội, nhất là những vị trí chủ chốt cần lựa chọn đúng những người thực sự tiêu biểu về bản lĩnh và trí tuệ, đạo đức và lối sống, gần gũi quần chúng và được tín nhiệm, có trách nhiệm và năng lực chỉ đạo, điều hành kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng-an ninh và đối ngoại, bảo đảm sự vững vàng và tin cậy về chính trị. Kiên quyết không sắp xếp những người có biểu hiện tha hóa về chính trị-tư tưởng, đạo đức và lối sống, cơ hội thực dụng, độc đoán gia trưởng, không tôn trọng sự lãnh đạo của tổ chức đảng và xa rời quần chúng, coi nhẹ nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, tiếp tục bổ sung phát triển, cụ thể hóa đường lối và phương thức lãnh đạo của Đảng, hệ thống luật pháp và chính sách của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng. Nghiên cứu bổ sung phát triển hai chiến lược trọng yếu, mang tính tổng hợp nhất là Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, trên cơ sở đó xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các chiến lược cơ bản của quốc gia (Chiến lược quốc phòng, Chiến lược an ninh, Chiến lược ngoại giao và các chiến lược chuyên ngành khác), các kế hoạch mang tính chiến lược (Kế hoạch phân vùng chiến lược về quốc phòng gắn với phân vùng chiến lược về kinh tế-xã hội, Kế hoạch phòng thủ dân sự, Kế hoạch xây dựng công trình quốc phòng gắn với Phương án phòng thủ chiến lược, Kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố…).

Tiếp tục bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, điều hành đối với quốc phòng, nhất là khi xử trí các tình huống khẩn cấp về quốc phòng hoặc chiến tranh theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; Nhà nước quản lý điều hành tập trung thống nhất; Bộ Quốc phòng (ở địa phương là Bộ CHQS) chủ trì phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội làm tham mưu và tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực quốc phòng.

Nghiên cứu xác định cụ thể hơn trách nhiệm, thẩm quyền của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng ủy Quân sự Trung ương và các cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, nhất là đối với những quyết sách chiến lược về quốc phòng. Nên tăng thêm trách nhiệm, thẩm quyền của Đảng ủy Quân sự Trung ương trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, tổ chức và hoạt động của QĐND và DQTV cho sát hợp hơn với tính đặc thù của tổ chức và hoạt động quân sự, đáp ứng yêu cầu quyết đoán khẩn trương, xử trí kịp thời và có hiệu lực các vấn đề an ninh phi truyền thống, các tình huống khẩn cấp về quốc phòng hoặc chiến tranh. Cũng nên bổ sung trách nhiệm, thẩm quyền của Đảng ủy quân khu trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng trên địa bàn, nhất là xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ, tổ chức phòng thủ quân khu, tổ chức phòng thủ dân sự, các hoạt động quân sự phi chiến tranh…là những vấn đề rất hệ trọng diễn ra thường xuyên trong thời bình, đồng thời chủ động xử trí các tình huống khẩn cấp về quốc phòng hoặc chiến tranh.

Ba là, tích cực bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực tổ chức thực hiện công tác quốc phòng của cán bộ các cấp, các ngành và các địa phương, tập trung vào các vấn đề cơ bản:Tư duy mới về đối tượng và đối tác, về hợp tác và đấu tranh, nhất là khi có những điều chỉnh chiến lược của đối tượng và đối tác có thể dẫn đến sự chuyển hóa về hợp tác và đấu tranh. Chủ động giải quyết tốt các quan hệ, không để thua thiệt trong hợp tác, không bị bất ngờ trước những âm mưu và hành động xâm hại lợi ích quốc gia. Nhận thức sâu sắc mục tiêu của Chiến lược quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, trong đó coi trọng hàng đầu bảo vệ độc lập dân tộc gắn với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Tư duy mới về phương thức chiến lược quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, nhất là kết hợp chặt chẽ Chiến lược quốc phòng với Chiến lược an ninh và Chiến lược ngoại giao, dựa chắc trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chủ động “giữ cho trong ấm, ngoài êm” để giữ nước ngay từ thời bình, ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh là phương thức tối ưu để bảo vệ Tổ quốc, đúng với bản chất của quốc phòng Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Nắm vững cơ chế lãnh đạo, quản lý điều hành công tác quốc phòng; Kết hợp chặt chẽ xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với xây dựng lực lượng và thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, tổ chức tốt phòng thủ dân sự, tăng cường quan hệ quốc phòng và đấu tranh quốc phòng.

Bốn là, phát huy trách nhiệm và quyền làm chủ của nhân dân đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đặc biệt coi trọng xây dựng “Thế trận lòng dân” vững chắc. Tăng cường giáo dục quốc phòng sâu rộng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn dân đối với sự nghiệp quốc phòng. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ ở cơ sở, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với những vấn đề cần và có thể công khai dân chủ trong xây dựng quốc phòng, nhất là động viên các nguồn lực trong nhân dân. Tích cực đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết của các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể chính trị - xã hội với nhân dân, động viên và tổ chức nhân dân tạo thành phong trào quần chúng sâu rộng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đối với quốc phòng là một nguyên tắc chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, đồng thời mang tính khoa học và nghệ thuật cao, chúng ta cần thực hiện nghiêm túc và tích cực nâng cao hiệu lực của cơ chế đó nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Trung tướng PGS,TS Nguyễn Tiến Bình

Tin mới