Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị

QĐND - 

Hệ thống chính trị chúng ta nói ở đây, được sử dụng thay cách trình bày trước là hệ thống chuyên chính vô sản. Về bản chất, không có gì khác biệt, cùng mục đích Đảng lãnh đạo để nhân dân làm chủ, nhưng cách hiểu được đổi mới, mở rộng. Hệ thống chính trị đó bao gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Trong hệ thống chính trị này, vai trò của Đảng và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Là nhân tố hợp thành hệ thống chính trị, nhưng hệ thống chính trị là sản phẩm, một trong những thành quả to lớn nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hệ thống chính trị Việt Nam hình thành từ khi có Đảng

Suốt mấy nghìn năm trước đây, những trí tuệ ưu tú nhất của loài người đều cố gắng tìm kiếm con đường để các dân tộc được sống trong hòa bình, hữu nghị, thoát khỏi cảnh thống khổ lầm than, mâu thuẫn, chống đối lẫn nhau. Nhưng hầu như tất cả không tìm thấy hướng đi đúng và lực lượng thật sự để thực hiện ước mơ của mình. Chỉ đến thế kỷ XIX, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học mới là người mở đầu một con đường thật sự giải phóng những người lao động khỏi bất công, ngang trái. Bằng việc đưa ra quan điểm duy vật về lịch sử và phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư, C.Mác đã tìm được lực lượng và vũ khí để giải phóng người lao động, và cũng từ đó, chủ nghĩa cộng sản mới trở thành một trong những khoa học giải phóng loài người. C.Mác và Ph.Ăng-ghen đi từ giải phóng các tầng lớp lao động mà thấy sự cần thiết phải giải phóng dân tộc, bởi vì các ông quan niệm “xóa bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này áp bức dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa, thì đồng thời quan hệ thù địch giữa các dân tộc cũng mất theo”(1). Chính vì thế, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăng-ghen viết: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự mình xây dựng thành giai cấp dân tộc”.

Vận dụng và phát triển lý luận của C.Mác về giải phóng giai cấp vô sản vào nước Nga, trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lê-nin thấy rõ hơn mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản và cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức. V.I.Lê-nin đề ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Và, với cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, mở đầu cho việc thủ tiêu chế độ người bóc lột người, thủ tiêu nạn áp bức dân tộc, và bằng chính sách dân tộc đúng đắn, V.I.Lê-nin đã đưa nước Nga từ “nhà tù đối với các dân tộc” thành “Tổ quốc của nhiều dân tộc”.

Ở Việt Nam, từ thiên tài trí tuệ của mình, vượt lên những tầm nhìn hạn chế của các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tìm thấy ở học thuyết này con đường cứu dân, cứu nước. Bác khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”(2). Người nói: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế III. Từng bước một trong cuộc đấu tranh, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Chính lòng yêu nước thiết tha và thương dân sâu sắc, muốn giải phóng dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa cộng sản, đem khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa cộng sản. Từ nhận thức tầm quan trọng của lý luận cách mạng, tìm được con đường cứu dân, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng các tổ chức cách mạng. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Công hội Đỏ, các tổ chức đảng lần lượt ra đời. Đến ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chấm dứt thời kỳ bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước hơn hai phần ba thế kỷ, kể từ khi nước ta bị đế quốc Pháp xâm lược. Đảng ta ra đời là sản phẩm của sự kết hợp phong trào yêu nước, phong trào công nhân với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là bước nhảy vọt của phong trào yêu nước, đồng thời cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở một nước nông nghiệp sản xuất nhỏ, chưa qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đảng ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong phong trào cách mạng và đời sống chính trị của nhân dân ta. Giai cấp công nhân Việt Nam từ đó thông qua đảng tiên phong của mình, đứng ra gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội khỏi mọi áp bức, bất công. Dưới ngọn cờ của Đảng, dân tộc Việt Nam vốn giàu lòng yêu nước, chí tự cường và bấy lâu khao khát độc lập, tự do đã gặp tư tưởng cách mạng triệt để là chủ nghĩa Mác- Lê-nin, một trong những trí tuệ cao nhất của loài người. Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Bác Hồ khởi thảo chỉ ra đường lối, nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng, cách thức tổ chức lực lượng cách mạng ở Việt Nam. Với đường lối, chủ trương, chính sách của các văn kiện ấy, Đảng ta đã thổi bùng ngọn lửa của phong trào cách mạng Việt Nam. Trải qua 15 năm đấu tranh đầy máu lửa, đầy hy sinh, những người cộng sản Việt Nam, những người yêu nước tự nguyện đi dưới ngọn cờ của Đảng, chứ không phải ai hết, là người trực tiếp đương đầu với lưỡi lê, máy chém, nhà tù của đế quốc, mà thể hiện lòng trung thành, xả thân cho sự nghiệp của toàn dân tộc. Bằng sự lãnh đạo của Đảng, bằng sự tập hợp lực lượng của các tổ chức quần chúng, cách mạng nước ta đã trải qua ba cao trào: Cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), cao trào Dân chủ (1936-1939), cao trào cứu nước (1939-1945). Ngày 19-8-1945, cả dân tộc ta đã vùng dậy giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xóa bỏ chính quyền nhà nước của thực dân và phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử của nước ta. Nhà nước Việt Nam là nhà nước độc lập, dân chủ thật sự của dân, do dân, vì dân. Chính vì vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thành công rực rỡ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng anh dũng suốt gần một trăm năm của nhân dân ta. Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng dân tộc dân chủ đúng đắn do Đảng ta vạch ra và lãnh đạo nhân dân cả nước ta thực hiện.

Nếu không có hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta đã bắt tay vào xây dựng đất nước phồn vinh từ sau ngày 2-9-1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng, các thế lực đế quốc không từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta. Chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử với hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, nhân dân ta, cả dân tộc ta đã phải trải qua 30 năm chiến tranh ròng rã, chịu đựng những hy sinh mất mát vô cùng to lớn, mới bảo vệ được nền độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ mới và sự thống nhất đất nước để đưa cả nước thống nhất đi lên con đường xã hội chủ nghĩa, con đường đem đến hạnh phúc, ấm no cho toàn dân tộc. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới toàn diện đất nước, do Đảng ta lãnh đạo đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Nhìn lại những bước đường phấn đấu đầy gian khổ hy sinh đã qua và những thắng lợi, thành tựu vẻ vang đã giành được của toàn dân ta, chúng ta có thể tự hào về vai trò lịch sử của Đảng ta, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh vô địch của Đảng chính là ở chỗ Đảng ta tuyệt đối trung thành với lợi ích tối cao của nhân dân, đứng vững trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy được sức mạnh lòng yêu nước của toàn dân tộc.

Vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị

Trước đây, trong cuốn Sự khốn cùng của triết học, C.Mác đã từng đặt câu hỏi: “Phải chăng như vậy có nghĩa là, sau khi xã hội cũ sụp đổ sẽ có một sự thống trị giai cấp mới, biểu hiện tập trung ở một chính quyền mới?”. Và chính C.Mác đã giải thích: “Không phải. Điều kiện giải phóng của giai cấp lao động, đó là xóa bỏ mọi giai cấp”. Mục đích của những người cộng sản, của Đảng Cộng sản giành chính quyền không phải giành quyền thống trị cho riêng mình. Những lời vu khống, áp đặt của một số người cho rằng Đảng Cộng sản “độc tôn”, “độc quyền” là hoàn toàn không đúng. Mục đích cách mạng của Đảng Cộng sản, của những người cộng sản giành chính quyền là để giải phóng toàn xã hội, là để đưa người lao động, đưa nhân dân lên địa vị làm chủ. Khi giành được chính quyền, xây dựng nhà nước kiểu mới, nhân dân muốn làm chủ phải có sự lãnh đạo của Đảng, được thực hiện chủ yếu bằng nhà nước, bằng các tổ chức quần chúng, thông qua đại diện của mình và trực tiếp của chính mình. Để xây dựng và bảo vệ cuộc sống mới của mình, nhân dân cần có một hệ thống chính trị vững mạnh. Đó không phải là đảng trị, đảng đứng trên dân tộc. Đảng lãnh đạo để dân làm chủ là mục đích tối cao, mục đích cuối cùng của Đảng. Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Để thực hiện mục đích ấy, khi chưa có chính quyền, Đảng lãnh đạo thành lập các tổ chức quần chúng, tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng mặt trận đại đoàn kết toàn dân tộc để giành chính quyền. Khi có chính quyền, trở thành đảng cầm quyền, cùng với các tổ chức quần chúng, Đảng sử dụng chính quyền chăm lo cho lợi ích cho nhân dân, cho lợi ích toàn xã hội.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Điều 4 này trong Hiến pháp, hiện nay đang là mục tiêu chống phá, muốn triệt tiêu của một số người không thiện chí, thậm chí có những mưu đồ. Tại sao họ tự cho mình là trí tuệ mà không thừa nhận một thực tế đã được chứng minh? Đây không phải là một sự đòi hỏi hay áp đặt của Đảng, mà chính là sự thừa nhận của đại đa số nhân dân Việt Nam.

Về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội IX của Đảng được mở rộng hơn về khái niệm, chính xác hơn. Đảng không chỉ là “đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam”, mà hơn thế nữa, Đảng “đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”. Đó không phải là ý muốn chủ quan của một ai, càng không phải là sự áp đặt, mà là thực tiễn chứng minh, nhân dân thừa nhận. Bởi vì Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, luôn luôn trung thành với mục tiêu lý tưởng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trung thành với lợi ích của giai cấp và dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế của thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Chánh cương vắn tắt, Cương lĩnh năm 1930 và Cương lĩnh năm 1991 của Đảng đã soi sáng cho quá trình cách mạng Việt Nam và bước đường tiến lên của dân tộc ta.

Thực tiễn gần 80 năm qua, bằng cả hệ thống chính trị, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta không quản hy sinh, không nề gian khổ, trải qua biết bao gian nan thử thách đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, viết tiếp những trang sử vàng chói lọi của dân tộc. Trong mỗi thời kỳ cách mạng, nhất là trước các bước ngoặt lịch sử, Đảng ta luôn luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành và sáng tạo, nêu cao tính độc lập tự chủ, trước hết ở việc xác định và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn và có hiệu quả.

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Sự nghiệp lãnh đạo của Đảng suốt gần 80 năm, đặc biệt từ khi Đảng cầm quyền và gần đây qua hơn hai mươi năm đổi mới toàn diện đất nước, mở rộng giao lưu, hội nhập, đã tạo ra sự đổi thay cực kỳ to lớn trong đời sống chính trị của dân tộc Việt Nam:

Cách mạng Tháng Tám đưa nhân dân ta từ thân phận người mất nước, sống lầm than trong đêm dài nô lệ thành người làm chủ sáng tạo ra những trang sử mới; đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của các cuộc chiến tranh cách mạng suốt 30 năm đã chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc hơn một thế kỷ trên đất nước ta, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Thắng lợi của 10 năm sau chiến tranh, trong thế bị bao vây cấm vận, thù trong giặc ngoài, nhân dân ta đã giữ vững được độc lập, xây dựng được những cơ sở ban đầu của chủ nghĩa xã hội ở cả nước.

Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước hơn 20 năm qua, tạo thế và lực mới cho đất nước ta chủ động và tích cực đi vào xu thế chung giao lưu, hội nhập quốc tế.

Những đổi thay, những chiến công và những kỳ tích đó khẳng định vị thế của Đảng ta trong lòng dân tộc. Thành tựu của cách mạng Việt Nam không chỉ thể hiện vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng mà còn khẳng định sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước ta. Lịch sử cách mạng Việt Nam gần 80 năm qua khẳng định không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Không có hệ thống chính trị nào mà không có sự lãnh đạo, không có một chính đảng, một lực lượng chính trị chi phối. Hiện nay, trên thế giới có hơn ba mươi đảng duy nhất cầm quyền, chi phối, dẫn dắt hệ thống chính trị của từng nước.

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” năm 1991 ghi rõ: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”. Thực chất của công cuộc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nước ta hiện nay là nhằm xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Hệ thống chính trị của nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đảng lãnh đạo để nhân dân làm chủ. Nhân dân làm chủ chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua các tổ chức chính trị-xã hội, vừa làm chủ qua đại diện, vừa làm chủ trực tiếp. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có chức năng thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và quản lý đất nước. Bằng công tác quản lý và điều hành xã hội thông qua Hiến pháp, pháp luật, các chủ trương, chính sách, Nhà nước thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Mặt trận Tổ quốc, có vai trò đặc biệt trong cách mạng dân tộc dân chủ, khi Đảng chưa giành được chính quyền, càng giữ vai trò quan trọng khi Đảng cầm quyền. Đó là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ; có vai trò quan trọng trong việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Trong cách mạng XHCN, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; động viên toàn dân tộc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả các quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước phải tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, của các cơ quan tư pháp, đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp, tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp.

Để phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, vấn đề có tính chất quyết định là phải tiếp tục thực hiện đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp và tính tiên phong của Đảng; xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ đảng viên đủ phẩm chất và năng lực. Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, vấn đề cấp bách hiện nay là phải nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng; kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.

Nhằm mục đích nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, vấn đề cực kỳ quan trọng là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân.

Để giữ vững vai trò cầm quyền, trước hết Đảng phải hoạch định được đường lối cách mạng đúng đắn, bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân thật sự được hưởng hạnh phúc, tự do. Đảng phải xây dựng được một Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của dân, do dân, vì dân. Phải thật sự xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để Đảng luôn luôn ngang tầm nhiệm vụ, Đảng sống mãi trong lòng dân tộc.

ĐỨC LƯỢNG

(1) C.Mác – Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập, TI, NXB Sự thật, HN, 1970, tr.48.

(2) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN, 1995, T.1, tr.461.

Tin mới