Để trả lời cho câu hỏi đầy nghiêm trọng nhưng cũng hết sức vớ vẩn là con người ta sống thế nào cho đủ, đại hiền triết Lão Đam đã điềm đạm bảo “Tri túc chi túc thường túc hĩ”. Nôm na là, biết đủ thì luôn luôn sống được đủ. Nghĩa của chữ “đủ” trong tiếng Việt được giải thích “có tất cả trong phạm vi có thể có. Không thiếu”. Lâu lắm rồi, từ điển ở ta mới nói đuợc một câu hay như thế, nó gần như là đúng.
Sống, theo quan niệm dân dã của người Việt thì có “tứ khoái”. Và tùy theo cảm thức của từng vùng, “bốn cái sướng” này có đôi chút xê dịch lệch khác. Nhưng dù có xê có lệch thì trong tứ khoái, “ăn” vẫn đứng đầu. Bàn về ăn thì không những ở Đông mà ở Tây cũng sôi nổi lắm. Đã có nhiều tạp chí hoặc tờ báo, thậm chí cả cuốn sách dầy cộp chuyên khảo về “ẩm thực”, một cách gọi sang trọng hóa chữ “ăn”.
Theo đám buôn sách ở vỉa hè thì các ấn phẩm về nấu ăn, cho dù người mua làm theo đấy chắc chắn... ỉa chảy, luôn là best-seller. Không phải ngẫu nhiên mà các đầu nậu sách thành công về tiền bạc, tuy cực kỳ yêu văn chương nhưng cũng phải đợi xuất bản cho xong “300 món ngon miền Bắc” hoặc “Phương pháp nấu sốt vang kiểu Ý” thì mới miễn cưỡng dám in “Văn tâm điêu long” hay “Tội ác và trừng phạt”. Lịch sử chiến tranh của nhân loại, không đến nỗi thê thảm như việc xuất bản sách, tuy nhiên những cuộc hoành tráng đánh nhau vì ăn là không hề hiếm. Ngay cả chữ hung hăng “thực dân” cũng đậm đà cái nghĩa khát khao của “xơi” của “chén” của “hốc”. Bởi ở sâu xa của Colonialnism thì bản chất đương nhiên là “tầm thực”, một công cuộc chinh phục những vùng đất mới để tìm ăn. Liệu đây có phải là một trong vài nguyên nhân khiến nhân dân các nước thuộc địa vốn đang đói khát, kiên quyết đứng lên giành độc lập chống lại cả chủ nghĩa thực dân cũ cũng như mới.
“Ăn” quan trọng như vậy nên đàn ông tử tế cư xử với nó cẩn thận lắm. Mặc kệ vô số đàn ông ăn bẩn ăn thỉu ăn liều ăn lĩnh “thực bất chi kỳ vị”, những đàn ông lương thiện luôn biết cách ăn đủ “trong phạm vi có thể có”. Ăn đúng bát Chúa đã dành cho mình, và hai bát đã no thì không ăn hai bát rưỡi. Vậy mà không hiểu sao, có một dạo ở vỉa hè Hà Nội dùng chữ “ăn đủ” theo nghĩa rất tệ. Khi thấy một gã quan tham đã có biệt thự lại cố chiếm lấy một xuất phân nhà bé tý trong khu tập thể rồi thanh thản hạ cánh an toàn. Hoặc một giáo sư đã có vợ khôn, có bồ đẹp mà vẫn gạ tình lấy điểm cô bé sinh viên năm cuối nhếch nhác sau đó ung dung hưu trí, thì người ta cảm thán “thằng ấy à, nó ăn đủ rồi”. Đại loại, cái thằng ấy là thằng đã ăn “dầy” còn ăn cả “bí tất”, một thứ cực kỳ bại hoại bần tiện.
Chính vì thế, không có thao tác sống nào lại lồ lộ rõ nhân cách bằng việc “ăn”. Người ta có thể đạo đức giả khi làm tình, thậm chí khi cầu nguyện, nhưng với “ăn” thì tuyệt không thể. Kinh hãi thay, những lúc tuyệt vọng đói, con người ta dám ăn cả thịt đồng loại. Hoặc miếng đó đã được sơ chế như miếng đùi của Giới Tử Thôi dâng cho công tử Trùng Nhĩ sau này trở thành minh quân Tấn Văn Công. Hoặc nó còn roi rói tươi như miếng lưng của những người bạn thân mà vị đại hiệp mặt người dạ thú Hoa Thiết Cán khốn nạn từng nuốt như trong tiểu thuyết “Liên thành quyết”. Chỉ cần thấy mình ăn chưa đủ là không biết bao nhiêu chính nhân quân tử sẵn sàng thăng hoa thành tiểu nhân súc vật.
Cuộc đấu tranh giữa ăn bẩn và ăn sạch để giữ cho đàn ông còn chút ít lương tâm để biết ăn đủ, luôn là cuộc chiến long trời lở đất. Bài thơ “Con cá, chột nưa” của thi sĩ Tố Hữu có một thời rất dài dùng làm đề thi vào đại học đã gân guốc diễn tả được điều đó, cái sự không tha hóa của người đàn ông đang đói. “Ăn đi vài con cá. Dăm bẩy cái chột nưa. Có ai biết ai ngờ. Thế vẫn tròn danh dự”. Thế nhưng “Không thể gì quyến rũ. Mua bán được lương tâm. Danh dự của riêng thân. Là của chung đồng chí”. Cảm động thay cái khí tiết chỉ biết ăn đủ luôn rạng ngời trong phẩm chất của những chiến sĩ ở buổi bình minh cách mạng. Xem đấy thì thấy, đạo đức vua nước Tầu còn thua xa một người cộng sản Việt bình thường.
Tuy nhiên, điềm đạm sâu sắc nhất vẫn là vài lời nói về miếng ăn của cụ Tam nguyên Nguyễn Khuyến. Lúc ấy cụ đang đói lắm, bỗng có người hâm mộ nhân cách Yên Đổ mang tới tận nhà tặng miếng thịt, cụ cảm tạ cầm nó rồi che mặt khóc “Trì chi yểm diện khốc”. (Nguyễn Khuyến tác phẩm - NXB Tp Hồ Chí Minh, trang 812). Chao ôi, một đàn ông đại trí thức từng làm quan đến chức tổng đốc vậy mà khi đối diện với “ăn” đã phải dằn vặt tới mức “Không ăn người bị đói. Ăn vào người bị nhục. Không ăn thì người gầy. Ăn vào thành thằng tục”. Bài thơ chữ Hán “nhân tặng nhục” được xót xa dịch thành “có người cho thịt” này xứng đáng là đoản thi kiệt tác nói được tiếng lòng của đám kẻ sĩ Bắc Hà, những người quen ăn đủ và sạch.
Đàn ông “tri túc” thì thời nào cũng hiếm, thời nay có vẻ càng hiếm, có lẽ đó là sự tiến bộ. Bởi xã hội bây giờ đang phè phỡn tươi đẹp, chuyện “tặng nhục” nhau đã trở thành nhỏ như bò ăn cỏ, chỉ duy bọn thảo dân dở hơi mới thèm đếm tính. Còn với các đại gia dư dật đủ hơi, miếng ăn đương nhiên đơn giản chỉ là miếng thịt.
Nguyễn Việt Hà 