Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng là tấm gương sáng ngời của người chiến sĩ cộng sản (*)

Nhân dân - 17/07/2012 11:29

(Bài phát biểu của Chủ tịch nước TRƯƠNG TẤN SANG)

Hôm nay, trong buổi Lễ trọng thể đón nhận Bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc biệt của Chính phủ đối với Khu Lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang do Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh An Giang tổ chức, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Người chiến sĩ cộng sản, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo mẫu mực của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam và xin gửi đến các vị đại biểu, đồng bào, đồng chí tỉnh An Giang lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thưa các vị đại biểu, thưa đồng bào,

đồng chí!

Chín mươi hai tuổi đời, hơn 70 năm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng gắn liền với lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng ta, nhân dân ta trong thế kỷ 20.

Sinh ra và lớn lên trên một vùng quê giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, người thanh niên Tôn Đức Thắng đã sớm có lòng yêu nước nồng nàn. Sau khi rời ghế nhà trường, đồng chí đã hòa mình vào cuộc sống và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Năm 1912, đồng chí là hạt nhân lãnh đạo, tổ chức cuộc bãi công của học sinh Trường Bách Nghệ và công nhân Nhà máy sửa chữa tàu Ba Son. Năm 1919, người thủy thủ Tôn Đức Thắng đã tham gia cuộc phản chiến, kéo cờ đỏ trên chiến hạm France ở Biển Đen để ủng hộ và góp phần bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga. Đồng chí là người tổ chức, lãnh đạo Công hội bí mật đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam năm 1920 và là một trong những người lãnh đạo chủ chốt cuộc bãi công của công nhân Ba Son năm 1925 - sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển về chất của phong trào công nhân Việt Nam.

Năm 1927, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập, được cử làm Ủy viên kỳ bộ Nam Kỳ, Bí thư Thành bộ Sài Gòn - Chợ Lớn. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tháng 2-1930, đồng chí trở thành đảng viên lớp đầu tiên của Đảng, góp phần quan trọng vào sự phát triển phong trào cách mạng ở Nam Bộ. Suốt 15 năm liên tục bị đày ải ở "địa ngục trần gian" Côn Đảo, sự tàn bạo của nhà tù đế quốc đã không khuất phục được người cộng sản Tôn Đức Thắng. Với lòng trung thành vô hạn lý tưởng cộng sản và ý chí, nghị lực phi thường, cùng với các đồng chí của mình, đồng chí Tôn Đức Thắng đã kiên cường đấu tranh, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ngay sau khi được Đảng đón về đất liền, đồng chí đã tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp, xây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng chí được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó nhiều trọng trách: Phụ trách Ủy ban kháng chiến kiêm Chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang Nam Bộ (năm 1945), Phó trưởng Ban Thường trực Quốc hội (năm 1946), Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (năm 1946), Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (năm 1951), Trưởng Ban Thường trực Quốc hội (năm 1955), Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (năm 1955), Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1960). Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, đồng chí được bầu làm Chủ tịch nước. Trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã cùng toàn Đảng, toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Tôn Đức Thắng được bầu là Chủ tịch nước sau ngày thống nhất đất nước.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng là tấm gương sáng ngời của người chiến sĩ cộng sản, vượt qua mọi thử thách nghiệt ngã trong lao tù của đế quốc và sự khốc liệt của chiến tranh, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân; là người tiêu biểu cho chính sách Đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Tôn Đức Thắng là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, ở bất cứ cương vị nào, từ người công nhân bình thường đến Chủ tịch nước, đều sống khiêm tốn, giản dị, suốt đời cần kiệm, liêm chính, gần gũi với đồng chí, đồng bào.

Trong lời chúc nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng được trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta mà đồng chí vinh dự là người đầu tiên được trao tặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc, là một tấm gương đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân". Chủ tịch Tôn Đức Thắng là niềm tự hào của Đảng ta, nhân dân ta.

Việc trao cho Khu Lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt là sự tôn vinh của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những công lao, đóng góp to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng cho đất nước và dân tộc; có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau về tấm gương sáng ngời của Chủ tịch Tôn Đức Thắng; là sự khẳng định của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi đi theo con đường Bác Hồ, Bác Tôn đã lựa chọn.

An Giang vinh dự và tự hào là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Đảng và Nhà nước luôn mong muốn và tin tưởng Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà mãi mãi phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, đoàn kết thống nhất, nỗ lực phấn đấu xây dựng An Giang phát triển toàn diện, văn minh, giàu đẹp, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, như tình cảm và mong ước của Bác Tôn lúc sinh thời đối với quê hương An Giang.

Một lần nữa, tôi xin chúc các vị đại biểu khách quý, đồng bào, đồng chí tỉnh An Giang sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Xin trân trọng cảm ơn.

-----------------------------------

(*) Đầu đề là của Báo Nhân Dân.