Cu cũ và cô cổ…

Xem tin gốc 

Tổ quốc - 28 tháng trước 19 lượt xem

Cu cu va co co…

Có lẽ vì nhà chật và phần nào chật tâm trạng nên người Hà Nội rất thích vỉa hè, nhất là vỉa hè phố cổ. Nhà chật, lòng chật thì ra vỉa hè… chật cho nó thoáng cái đầu.

Cả ngày tối tăm mặt mũi, xoay dọc xoay ngang, trục tung trục hoành, cứ bấn lên như đèn cù mà vẫn thích có mồi nhắm… người đi qua lại, xe cộ vù vù, còi kiếc đinh tai, cãi nhau lộn bậy…

Để xả stress thôi mà. Giống như để chữa miệng lưỡi cay xé vì ớt thì làm một ngụm nước nóng là xong. Người ở sa mạc ấy mà, cứ áo dày như bao tải là thoát nóng. Có thế mà không biết.

Ngồi như xé lòng, nát óc như ở giữa ngã tư người mắc cửi, ra về lại thấy nhẹ nhõm quá chừng. Chắc là do được nói to, nói không ai nghe, không ai thèm nghe ai, thế mới hay. Có người nói cứ mang tin mật hở ở quán ngã tư, chẳng phương hại gì hết, chẳng ai ghi âm bằng tai hay bằng máy làm gì.

Bia trôi, rượu trôi, món trôi, ta trôi… sớm nhất là bảy giờ tối, lúc thành phố lên đèn là ta rã rời trôi về với nơi ta đã vội vã ra đi.

Cao lâu Hà Nội chỉ dành cho những người lắm tiền nhiều của, sợ mất vệ sinh, dễ viêm gan B và các chứng ung thư khác. Nơi ấy, khay chén, dao dĩa sáng loáng, khăn lau khăn trải trắng tinh, giọng nói buồn buồn, thầm thầm và hệ trọng, giống như nói trong phòng mổ. Sang trọng quá nhìn cũng hãi lắm.

Rất ít có những quán rượu trong nhà khiêm tốn mặt tiền, loi thoi trong những con phố nhỏ như Hà Nội xưa vẫn có. Hà Nội vẫn lưu cữu hồn vía, hoài niệm và sự cũ kĩ của mình trong những nếp sinh hoạt với những quán, những góc nhỏ phiêu lãng.

Tôi thích cái nếp của quán 123 ở Sinh Từ cũ cũng vì lẽ đó. Chắc nó không cũ như tôi tưởng, nhưng tinh thần cũ thì rõ lắm rồi, không thể nhạt phai…

***

Quán 123 do ông Phụng làm chủ. Nó nằm ở cuối Sinh Từ gần Văn Miếu, bên kia là chùa Ngô. Phố Sinh Từ là tên gọi cũ, mãi đến năm 1964 chính quyền Hà Nội mới đổi thành Nguyễn Khuyến. Trước, Sinh Từ chuyên nghề dao kéo, vôi sơn, lác đác có mấy nhà bán bia đá, quan tài. Bây giờ phố vẫn lác đác dao kéo vậy, vẫn kéo không quá nửa cây số với từng ấy nếp nhà thấp mái. Phố một chiều xe, bạc phếch và ấn tượng.

Nói là ông Phụng làm chủ cho có vẻ oai, chứ thực ra ông làm chủ mấy chiếc ghế, chiếc bàn nhỏ tí, thấp và sần sùi. Bàn ghế kê sát những mảnh tường cũng thấp, cái quầy bán hàng được kê ở góc trái quán cũng logic với sự khiêm nhường của diện tích. Ánh sáng vừa đủ để thực khách không cầm nhầm rượu và tình nhân không gắp phải tay nhau. Tịnh không có gì được dùng một từ là trang trí.

Tứ mùa chỉ thấy ông chủ mặc chiếc áo màu nâu với chiếc quần đã sờn. Co ro, lòng khòng trước ngọn đèn dầu, bát điếu với dăm ba que đóm, túi ny lông thuốc lào với mấy que diêm dang dở. Thần người mà ngồi. Giống y chang cái lão Phú Quý đang ngồi giữa gánh rối nhỏ trong phim Phải sống của Trương Nghệ Mưu (Zhang YiMou) dựng theo tiểu thuyết của Dư Hoa. Một cảm giác cái quán nhỏ không đựng gì ngoài kỷ niệm, xô lệch, rìn rịn, âm ẩm, buồn buồn, thèn thẹn mà lại vẫn thấy moi ra từ đấy một thứ gì đấy chỉ có xa xưa mới biết được.

Như không thể có gì mua bán, trao đổi cho việc ăn uống, nhâm nhi, nhậu nhẹt, cười to, hét lớn ở đây.

Có một người bạn quê miền Trung, khi ăn vào nặng đúng một trăm ký, lại có người chính gốc tư sản cũ Hà Nội, góc cạnh điệu đàng, một béo một gầy, cá tính ngược nhau, một nóng như hổ lửa, một thưa thốt có đầu có cuối, một ăn khỏe như vâm, một ăn từng sợi nhỏ. Nước lửa là kẻ thù, nước lửa lại giữ cho sự yên bình. Thế mới xuất hiện người thứ ba, nhỏm nhom, ngồi lọt thỏm giữa 123 quán cũ. Ăn món nấu giả chó, món ai cũng nấu được và lạ nhất là nhiều người thích nấu món này và ăn món này. Có lẽ, đôi lúc thật nhiều quá cũng phải giả một tí thì cuộc sống mới trở nên phong phú. Có những nói dối không chết ai mà lại chết… tình.

Ông Phụng lấy lợn hóa chó với giềng mẻ thì đến chó cũng phải công nhận là mình. Nghe đâu có cả mắm tôm quê. Phối trí đậm nhạt vừa phải, dậy mùi, quê kiểng. Bày biện từng món một, lễ phép, ôn hòa, nhỏ nhẹ, hệ trọng. Trong gương mặt hiền từ, nhẫn nại, thẫn thờ, ánh lên một vẻ tinh quái, sành điệu, kén lựa nghiêm cẩn của ẩm thực gia giáo, tinh tế, chuẩn mực. Từ cách nấu, cách rước, cách bày bát đĩa như một im lặng chống lại sự hổ lốn của ẩm thực dăm cha ba mẹ thời này.

Chiếc đèn Hoa kỳ leo lét sáng…

Một khung cảnh gợi nhớ những gì còn sót lại của tuổi thơ. Thỉnh thoảng phố phường vẫn mất điện nhưng đèn Hoa kỳ lại không vụt tắt trong ký ức bao giờ. Nó gợi ý về một cái gì đã thuộc về dĩ vãng. Hát cô đầu ở Khâm Thiên, lễ hội của đình chùa, quán nước nhỏ dưới cây cột điện ở phố Hàng Giấy, người bán lạc rang đêm đông ở phố Hàng Than, nộm bò khô của người Tàu trước cửa chợ Đồng Xuân… Nó gợi nhớ một Hà Nội sâu thẳm trong Hà Nội. Một Hà Nội đạm bạc, hồn cốt, nhỏ nhẹ, tinh khôi và nguyên khiết…

Ông Phụng vừa “góp ăn” với khách quý vừa hát với một họa sỹ những làn Quan họ mộc. Cái ông nam họa sỹ này lại làm ở báo gồm toàn các quý bà mới lạ. Lạ hơn lại là người biết tới hơn ba trăm bài quan họ và am hiểu tường tận về quan họ khó ai bì kịp. Ông Phụng hát giao duyên với quan họ bởi không có người hát đối. Quan họ không nhạc như gỗ không đánh vécni. Buồn mà chân thật. Chùa chiền và sự trù phú của đồng quê Kinh Bắc cứ cung kính, cứ uốn lượn, cứ khói sương, cứ như mây…

Bình cũ, rượu cũ, người xung quanh đều cũ trong câu hát cũ. Mưa phía ngoài cũng như đã cũ. Thịt lợn nấu giả cày cũng gợi về lễ lạt làng quê, lại cũng như làng quê cũ. Thế mà không biết cái góc khuất của Hà Nội. Cứ mốt, cứ xả, cứ xô đẩy. Rồi trời ạ, không biết rồi đi về đâu…

Thôi cứ ngồi xuống và cứ lễ phép trước những đồ vật thấp nhỏ của một quán nhỏ để ta hình dung lại chân dung của thời thế và đời người…

Từ khóa liên quan

Danh từ
Cụm từ
Địa danh thế giới
Khẩu ngữ & Thành ngữ
Động từ
Danh từ riêng
Từ chuyên môn
Địa danh trong nước

Tin đọc nhiều

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang