Luật Quản lý nợ công gồm 7 chương, 49 điều, quy định các nguyên tắc quản lý nợ công là thống nhất, tập trung đầu mối, quản lý toàn diện cả nợ trong và ngoài nước, chú trọng đến mục tiêu an toàn nợ, quản lý rủi ro thông qua xây dựng và thực hiện các chỉ số giám sát nợ trong từng thời kỳ và áp dụng các nghiệp vụ quản lý nợ linh hoạt. Phạm vi điều chỉnh của luật là các khoản nợ liên quan đến nghĩa vụ trực tiếp hoặc dự phòng của ngân sách nhà nước. Theo đó, các khoản nợ công được điều chỉnh trong luật này sẽ bao gồm các khoản nợ trong và ngoài nước của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ trong nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động vay, sử dụng vốn vay, trả nợ và quản lý nợ công thuộc đối tượng điều chỉnh của luật này. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-2010.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền hợp tác đầu tư với doanh nghiệp sản xuất phim, doanh nghiệp phát hành phim và doanh nghiệp phổ biến phim của Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập liên doanh. Luật sửa đổi lần này đã quy định việc đấu thầu sản xuất phim thể hiện tính đặc thù của điện ảnh, cho phép chủ đầu tư được quyền quyết định hình thức đấu thầu, thực hiện linh hoạt đối với các trường hợp để lựa chọn dự án sản xuất phim mà vẫn bảo đảm chất lượng tác phẩm và hiệu quả kinh tế - xã hội. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1-10-2009.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2010, tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều khoản có nội dung còn chưa rõ, chưa chặt chẽ, chưa tương thích với các luật khác của nước ta và các điều ước quốc tế; bảo đảm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luật này quy định về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lựa chọn di sản văn hóa phi vật thể của các địa phương để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời cấp giấy chứng nhận cho các di sản văn hóa phi vật thể này. Việc sửa đổi và cụ thể hóa các quy định thuộc lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể làm cho công tác bảo tồn, phát huy thuận lợi hơn, phù hợp hơn với khả năng thực hiện. Luật bổ sung quy định về tiêu chí xếp hạng di tích tạo điều kiện cho các địa phương chủ động hơn trong việc lập kế hoạch và triển khai lập hồ sơ xếp hạng di tích, đồng thời đưa việc xếp hạng di tích vào nền nếp, bảo đảm yêu cầu khoa học hơn.
Cũng có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo hướng kéo dài thời hạn bảo hộ từ 50 năm lên 75 năm kể từ khi tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh được công bố lần đầu tiên. Trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được định hình, nếu chưa được công bố thì thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi tác phẩm được định hình. Đối với tác phẩm khuyết danh, khi thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính là suốt cuộc đời và 50 năm sau khi tác giả chết. Tác phẩm sân khấu có thời hạn bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết, thay vì bảo hộ 50 năm kể từ khi công bố như quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ.