Công bằng xã hội trong giáo dục đại học

Tuần Việt Nam - 

Cong bang xa hoi trong giao duc dai hoc

Cuộc cải cách trong giáo dục đại học (GDĐH) của Việt Nam có thể bắt đầu từ đâu? World Bank (WB) đã theo dõi các cuộc cải cách GDĐH trên thế giới và cho rằng, trong gần 20 năm qua, thế giới như có chung một “chương trình nghị sự” mà phần cơ bản khá giống nhau, khá nhất quán, tập trung vào hai mảng là tài chính và quản trị, cho dù có khác nhau về hệ thống chính trị - kinh tế, về trình độ phát triển, đang ở giai đoạn phát triển lành mạnh hay đang trì trệ, hệ thống GDĐH đang còn là “tinh hoa” hay đã bước sang giai đoạn phổ cập, GDĐH chủ yếu là công lập hay tư thục v.v…

Để tăng khả năng cạnh tranh cho GDĐH Việt Nam trên trường quốc tế, trên trang Giáo dục báo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần số 391 đã nêu rõ, nhất thiết phải có "suất đầu tư" thỏa đáng cho GDĐH. Dĩ nhiên quá trình gia tăng đầu tư này ảnh hưởng không nhỏ đến túi tiền gia đình các sinh viên nghèo. Thế nên để tạo công bằng xã hội trong GDĐH, đây là một bài toán không đơn giản.

Cho sinh viên vay vốn: Vẫn còn những lo ngại!

Chương trình cho sinh viên (SV) vay vốn trên thế giới hết sức đa dạng. Nói riêng về mục tiêu, có thể phân thành năm nhóm. Thứ nhất, tạo nguồn thu nhập cho các ĐH công lập thông qua tăng học phí để đảm bảo chi phí đơn vị (CPĐV). Thứ hai, tạo điều kiện để mở rộng quy mô hệ thống GDĐH. Thứ ba, tăng cơ hội tiếp cận GDĐH cho người nghèo, đảm bảo công bằng xã hội. Thứ tư, đáp ứng nhu cầu nhân lực nằm trong ưu tiên quốc gia. Thứ năm, giảm bớt gánh nặng tài chính lên tất cả các nhóm SV và tăng cường trách nhiệm của chính SV (chứ không phải là gia đình họ).

Ở Việt Nam, qua Chỉ thị số 21/2007/CT-TTg và Quyết định số 157/2007/QG-TTg, có thể hiểu, chương trình cho SV vay vốn có mục tiêu chính là tăng cơ hội tiếp cận GDĐH cho người nghèo. Và, qua báo cáo của Bộ GD-ĐT, đến năm 2010 doanh số cho vay đã đạt đến con số 18.094 tỉ đồng, trong đó riêng năm học 2008-2009 là 8.449 tỉ đồng với khoảng 1,67 triệu SV được vay. Có thể cho rằng, đây là một chính sách đổi mới nổi bật của GDĐH trong ba năm qua. Tuy vậy, vẫn có một số lo ngại sau đây:

Một là, mức "trợ cấp ẩn", do lãi suất thấp và chậm trả, ước tính được của chương trình có thể lên đến 25 - 40% và "tỷ lệ hoàn vốn" do vậy có thể chỉ khoảng 45 - 50%, trong khi doanh số cho vay một năm lên đến 0,5 tỉ USD. Có nghĩa, "chi phí" cho chương trình này hằng năm có thể lên đến trên 0,2 tỉ USD so với Ngân sách Nhà nước (NSNN) hằng năm dành cho GDĐH cũng chỉ khoảng 0,5 tỉ USD, tức khoảng 40% (ở nhiều nước, quy mô của quỹ loại này thường chỉ bằng khoảng 10 - 20% NSNN dành cho GDĐH). Vậy liệu chương trình này có bền vững về mặt tài chính? Tất nhiên đây là câu chuyện của 3-4 năm sau này, sau khi số SV vay vốn hiện nay tốt nghiệp được một vài năm.

Ảnh minh họa: segvn.org

Hai là, chương trình hiện nay có mức "trợ cấp ẩn" cao, nhưng đối tượng cho vay lại quá lớn, đến 1,67 triệu SV. Vậy chương trình có tiếp cận đúng SV nghèo?

Ba là, ngoài ra, chương trình lại yêu cầu có sự bảo lãnh của gia đình nên mục tiêu cuối cùng - nâng cao trách nhiệm của chính người SV - có thể không đạt được.

Thực tế thế giới cũng đã cho thấy, khi tăng học phí mà có tổ chức chương trình cho SV vay vốn tốt thì gần như không ảnh hưởng gì đến vấn đề công bằng xã hội trong GDĐH. Hồng Kông có lúc tăng học phí lên 2,65 lần nhưng họ đã có những chương trình SV vay vốn khá thành công với mục tiêu là "Không một em học sinh nào đủ trình độ mà lại không được học ĐH" vì lý do tài chính.

Ngoài chương trình cho SV nghèo vay vốn, đảm bảo công bằng xã hội trong GDĐH, trên thế giới còn có nhiều loại chương trình nhằm tạo điều kiện để các ĐH có thể tăng học phí, mở rộng quy mô GDĐH và giảm gánh nặng tài chính lên tất cả các nhóm SV (Hàn Quốc có đến sáu chương trình cho SV vay vốn).

Với các chương trình này, thường chỉ có "trợ cấp ẩn" rất ít từ Nhà nước. Nhà nước chỉ cần gánh chi phí giao dịch và rủi ro nếu có cho SV. Vì vậy, lãi suất có thể cao hơn một chút so với lãi suất huy động vốn của ngân hàng chẳng hạn và có thể giao cho các ngân hàng thương mại thực hiện.

Lưu ý rằng chương trình cho SV vay vốn khá phổ biến trên thế giới, đã có ở trên 50 nước và thường được thiết kế khá công phu. Tuy vậy, một nghiên cứu gần đây của UNESCO - Bangkok và Viện quốc tế về kế hoạch hóa GD vẫn còn cho thấy: "Có nhiều trường hợp, sự thành công là không rõ ràng, có chương trình ở Hàn Quốc không thành công trong việc hướng vào đối tượng SV nghèo, ở Thái Lan thì "tính bền vững về tài chính thấp", ở Philippines lại "không có thu hồi vốn", thậm chí có chương trình phải tạm dừng lại như ở Indonesia, Sri Lanka v.v...

Một chính sách định hướng đúng không nhất thiết đem lại một kết quả tốt, nếu việc thiết kế quy trình và tổ chức thực hiện không tốt.

Thế giới: Đa dạng cách hỗ trợ sinh viên đến trường

Ngoài ra, khoảng 15 năm qua có rất nhiều nước như Anh, Thụy Điển, Úc, Thái Lan, v.v... cũng đã nghiên cứu và vận dụng một chính sách mới cho SV vay vốn gọi là "Income Contingent Loans" (mức trả nợ không cố định mà tùy thuộc vào thu nhập của người vay), để SV trang trải chẳng những học phí mà còn cả chi phí ăn ở, để mở rộng khả năng tiếp cận GDĐH cho số đông.

Phần lớn SV được vay vốn với mức lãi suất thấp. Sau khi ra trường, nếu họ chưa xin được việc làm hoặc mức lương còn thấp hơn một ngưỡng nào đó thì chưa phải trả. Nếu mức lương cao hơn ngưỡng thì trích một phần, ví dụ 10 - 20% của phần cao hơn để trả dần, có thể kéo dài đến 10 - 20 năm, gần giống như thuế thu nhập cá nhân lũy tiến. Nếu sau thời gian đó mà trả chưa xong thì được xóa nợ. Bản chất của chính sách này là chuyển sự chi trả của SV từ hiện tại sang tương lai và được Nhà nước gánh chịu toàn bộ rủi ro cho họ nhưng chỉ có tài trợ một phần qua lãi suất thấp. Nhà nước trích một phần NSNN cấp cho GDĐH để trang trải "chi phí" cho chính sách này. Ở Thái Lan năm 2003, dự toán ngân sách cho Quỹ cho vay có con số đến 350 triệu USD so với NSNN dành cho GDĐH là 680 triệu USD.

Ở hình dưới đây là sơ đồ biểu thị các nguồn tài chính của một SV ở Anh, phụ thuộc vào mức thu nhập của gia đình (2008), với tổng chi phí để trả học phí và cả ăn ở của SV trong một năm là 9.800£ (bảng Anh), khi có chương trình "Income contingent loan". Như vậy, với một SV gia đình nghèo thu nhập dưới 15.000£ một năm chẳng hạn, SV được vay 3.000£ để trả học phí (chiếm khoảng 30% tổng chi phí), được vay khoảng 3.300£, học bổng 300£, tài trợ khoảng 2.700£ để có tổng số 6.300£ lo cho chí phí ăn ở, phần còn thiếu chỉ khoảng 500£.

Có nên đi vay để đầu tư cho GDĐH?

Theo GS Schultz, nhà kinh tế được giải Nobel, đồng thời cũng là một giáo sư chuyên về "kinh tế học giáo dục", "đầu tư của một quốc gia là tối ưu khi hiệu quả đầu tư ở các lĩnh vực đầu tư khác nhau là bằng nhau". Với lĩnh vực GDĐH, theo WB (2008), suất thu lợi hiện còn khá cao đối với các nước có thu nhập đầu người trung bình và thấp. Vậy vấn đề đặt ra là, tại sao chúng ta có thể đi vay quốc tế để đầu tư vào hạ tầng, vào các cơ sở công nghiệp rất khó đạt đến RR khoảng trên 10%, mà lại không đi vay để đầu tư cho GDĐH, nhằm có được một nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao. Mà, theo ông Lý Quang Diệu trong chuyến thăm nước ta năm 2007 có nói, "nguồn nhân lực trình độ cao đang là "nút thắt cổ chai" trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam".

Với nguồn vốn này, Nhà nước có thể xây dựng nhiều loại quỹ cho SV vay vốn khác nhau. Tất nhiên, gần như tất cả các quỹ này đều không thể hoàn vốn 100% cho Nhà nước. Tỷ lệ hoàn vốn thấp nhất là ở các quỹ có "tài trợ ẩn" cao phục vụ cho mục tiêu công bằng xã hội. Tỷ lệ hoàn vốn ở các quỹ này của Trung Quốc chỉ là 55%, Hàn Quốc 64%, ở các nước phát triển thì cao hơn. "Tổn thất" ở đây chính là "chi phí tài trợ", bao gồm: Tài trợ lãi suất, chi phí vận hành quỹ và cả một số tổn thất do có người hoãn nợ hoặc không trả nợ. "Chi phí tài trợ" có thể trích từ phần NSNN lâu nay cấp cho các trường ĐH. Xin lưu ý, ngân sách cấp vốn cho các trường ĐH là để tài trợ cho SV trong khi chưa cấp trực tiếp cho SV được (ví dụ phiếu trợ cấp GD) chứ không phải là trợ cấp cho trường ĐH.

Có thể biểu thị cách phân bổ NSNN khi đó như ở sơ đồ dưới đây.

Thực tiễn cải cách GDĐH cũng cho thấy, cải cách về quản trị luôn kèm theo là việc dịch chuyển về quyền lực và quyền lợi nên luôn gặp những cản trở của nhiều "nhóm lợi ích có liên quan", như cải cách về tự chủ ĐH ở Thái Lan, Indonesia v.v... Vậy, phải chăng Việt Nam cũng nên khởi sự cải cách GDĐH bằng chính cải cách tài chính? Tất nhiên, để cải cách tài chính, bài toán thiết kế chính sách cũng hết sức phức tạp và cũng phải được thiết kế một cách hết sức công phu. Khi áp dụng chính sách mới thì tỷ lệ SV trong thanh niên ở độ tuổi thuộc các tầng lớp dân cư khác nhau được tiếp cận GDĐH sẽ thay đổi như thế nào. Chính vì vậy, WB đã cảnh báo: "Cải cách vội vã là bóp chết cải cách".

Đã đến lúc cần có một đề án tổng thể về cải cách tài chính GDĐH, bao gồm cả vấn đề hiệu quả, công bằng xã hội và tham nhũng trong GDĐH. Có như vậy mới tìm được sự đồng thuận trong xã hội. Hơn nữa, cũng không nên tách riêng vấn đề học phí vì như một giáo sư ở Anh đã nói: Ở đây không có khái niệm "lời giải đúng" và cũng là vấn đề dễ gây ra "tai họa về mặt chính trị".

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Tin mới