Còn nhiều tồn tại trong tự chủ tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp

eFinance - 01/07/2011 14:39

Con nhieu ton tai trong tu chu tai chinh tai cac don vi hanh chinh su nghiep

Theo đánh giá của Thanh tra Bộ Tài chính, thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, các Bộ và cơ quan Trung ương đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 756 đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Về phía các địa phương đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 23.399 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, trong đó có 219 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động; 9.868 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và 13.312 đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.

Đối với việc thực hiện Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước, các cơ quan ở Trung ương về cơ bản đã thực hiện giao chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc.

Trong số 55 tỉnh, thành phố đã gửi báo cáo về Bộ Tài chính, có 44 tỉnh, thành phố đã thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ quan, đơn vị thuộc cấp tỉnh, thành phố; trong đó có 44/55 tỉnh, thành phố (bằng 80%) đã thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với 100% cơ quan, đơn vị thuộc cấp tỉnh; 11/55 tỉnh, thành phố (20%) mới thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho một số cơ quan cấp tỉnh trực thuộc. Nguyên nhân là do một số đơn vị mới được thành lập, chưa ổn định về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ.

Đối với các cơ quan thuộc cấp quận, huyện: Hiện có 48/55 tỉnh, thành phố đã thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho 100% các cơ quan thuộc cấp huyện, quận; còn 7/55 tỉnh, thành phố chưa giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị hành chính cấp huyện.

Theo Nghị định 130, việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho UBND cấp xã, phường do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định. Đến nay có TP.Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương đã triển khai thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho 100% số xã, phường. Một số tỉnh, thành phố đang thực hiện thí điểm ở một số xã như: Hà Giang 18 xã, Lâm đồng 59/145 xã (37%), Đà Nẵng 6/56 xã (10,7%); Long An 30%...

Từ năm 2007 đến 2010, Thanh tra Bộ Tài chính đã thanh tra tại 36 đơn vị dự toán cấp II và một số đơn vị dự toán cấp III trực thuộc, đối với ngành Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông; Thanh tra các Sở Tài chính địa phương đã tiến hành thanh tra tại 884 đơn vị hành chính sự nghiệp.

Một số kết quả thực hiện nghị định 43 và 130

Theo đánh giá của Thanh tra Bộ Tài chính, các đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính đã chủ động sử dụng kinh phí NSNN giao hiệu quả hơn để thực hiện nhiệm vụ; đồng thời chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo điều kiện tăng nguồn thu.

Các đơn vị đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ để tăng cường công tác quản lý trong nội bộ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp, khai thác nguồn thu, tăng thu, tiết kiệm chi, do vậy nhiều đơn vị đã tiết kiệm chi thường xuyên góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sự nghiệp.

Nhìn chung kết quả thu sự nghiệp đều tăng, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên đạt từ 70-80%. Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, đơn vị đã đổi mới phương thức hoạt động, tiết kiệm chi, thu nhập đã từng bước được nâng cao. Nguồn thu sự nghiệp, cùng với nguồn kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên, đã góp phần bảo đảm bù đắp nhu cầu tiền lương tăng thêm cho cán bộ, nhân viên.

Đơn vị sự nghiệp từng bước đã được tự chủ huy động vốn để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, tạo điều kiện mở rộng các hoạt động sự nghiệp và các hoạt động dịch vụ trong đơn vị.

Vẫn còn tồn tại

Một số đơn vị được thanh tra ban hành và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ chưa đúng với hướng dẫn tại Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính. Cụ thể là: Quy định cước điện thoại di động, điện thoại nhà riêng cao hơn mức quy định của nhà nước, hoặc không quy định mức cước điện thoại mà thanh toán theo thực tế phát sinh không đúng quy định. Quản lý sử dụng các quỹ còn tình trạng chưa xây dựng mức trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập và quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Chưa quy định cụ thể về đối tượng chi, mức chi. Quản lý các hoạt động dịch vụ các đơn vị đều chưa hạch toán kịp thời, đầy đủ, chính xác doanh thu, chi phí hoạt động dịch vụ dẫn tới thiếu thuế GTGT và thuế TNDN. Tại các đơn vị đều chưa xây dựng tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành nhiện vụ được giao như khối lượng công việc hoàn thành trong năm, chất lượng công việc hoàn thành… nên việc chi trả thu nhập tăng thêm trong năm đều tính theo hệ số chức vụ cấp bậc công tác và bình bầu A,B,C… Tự ban hành tỷ lệ trích chênh lệch thu chi vào Quỹ dự phòng tài chính; trích Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp không đúng; trích Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, trợ cấp mất việc... Nhiều khoản chi thường xuyên phát sinh nhưng chưa được qui định cụ thể trong qui chế chi tiêu nội bộ mà thực hiện theo quyết định của thủ trưởng đơn vị, dẫn tới hạn chế về tính công khai, dân chủ trong quá trình quản lý tài chính...

Lập và giao dự toán chưa sát với thực tế: Tại một số đơn vị, chưa xác định rõ cơ cấu nguồn thu và khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên, để làm cơ sở xác định chính xác mức hỗ trợ của NSNN. Một số đơn vị lập dự toán thu, chi NSNN vẫn mang theo tâm lý khi lập dự toán thu chưa phản ánh hết các nguồn thu, hoặc lập dự toán với số thu thấp hơn số thực thu năm trước, nội dung chi cao hơn để được tăng hỗ trợ từ NSNN, lập dự toán chi cao hơn số quyết toán các năm trước liền kề, nhưng không có thuyết minh và lý giải hợp lý nguyên nhân tăng.

Xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp, dẫn đến cấp kinh phí không chính xác: Một số đơn vị đã xác định nguồn thu sự nghiệp không chính xác, cơ quan chủ quản chưa thẩm tra, đánh giá đầy đủ, nên đã xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính.

Qua tổng hợp số liệu thu chi thường xuyên các năm từ 2005-2008 thấy, có đơn vị tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí trên 10%, nhưng vẫn được xác định là đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí (NSNN cấp 100%). Nguyên nhân do dự toán năm 2007 (năm đầu thời kỳ ổn định) một số đơn vị lập dự toán số thu sự nghiệp thấp, đồng thời xác định số chi thường xuyên cao hơn thực tế, dẫn tới xác định không đúng tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí.

Đơn vị đã tự chủ toàn bộ chi phí hoạt động, nhưng cơ quan chủ quản vẫn cho phép áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên. Việc đơn vị xác định không đúng loại hình tự chủ dẫn đến NSNN hàng năm vẫn phải cấp bù kinh phí hoạt động thường xuyên (Ví dụ có đơn vị từ năm 2006 đến năm 2009, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên năm 2006 là 154%, năm 2007 là 166%, năm 2008 là 146%, năm 2009 là 256% nhưng vẫn được NSNN cấp bổ sung kinh phí: năm 2006 là 431 triệu đồng, năm 2009 là 200 triệu đồng...).

Quản lý các hoạt động dịch vụ còn nhiều sai sót, thiếu hướng dẫn: Hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp cũng đã đóng góp một phần đáng kể nguồn thu cho đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên... song việc quản lý hoạt động dịch vụ tại các đơn vị cũng còn nhiều tồn tại như: chưa hướng dẫn giá thu dịch vụ, phân phối việc liên kết với các tổ chức cá nhân có máy móc thiết bị (tại các bệnh viện thuộc Bộ Y tế) hạch toán thiếu, không kịp thời doanh thu, chi phí dẫn tới thực hiện nghĩa vụ với NSNN không đầy đủ, thiếu thuế GTGT, thiếu thuế TNDN... Qua thanh tra tại 03 Bộ thấy các đơn vị được thanh tra đã hạch toán thiếu doanh thu là 21.803 triệu đồng (03 Bộ), về việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN còn thiếu là 20.832 triệu đồng (05 Bộ).

Tại các địa phương: Công tác thanh tra tài chính tại 884 đơn vị hành chính sự nghiệp đã phát hiện các sai phạm như: chi tiêu chưa đúng chế độ, chi vượt dự toán được duyệt, nhiều khoản chi lập dự toán chưa đầy đủ, đặc biệt trong quản lý và sửa chữa thường xuyên tài sản không đúng dự toán được duyệt, chi vượt dự toán, chi không đúng hạng mục sửa chữa trong dự toán...; thiếu hóa đơn chứng từ, trả lương và thanh toán công tác phí, tiền điện thoại, tiền nghỉ phép... không đúng qui định; báo cáo quyết toán về thu chi học phí phản ánh chưa đúng chế độ. Qua thanh tra đã kiến nghị xử lý trên 277 tỷ đồng.

Bất cập về cơ chế chính sách

Đối với việc thực hiện Nghị định 43: Một số Bộ ngành chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, đo đó chưa đồng bộ với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Nhiều định mức kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn ngành đã lạc hậu hoặc còn thiếu; không hợp lý nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung.

Việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành và chất lượng hoạt động sự nghiệp của đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm chưa được thực hiện, nên đã hạn chế việc chi trả thu nhập theo mức độ hoàn thành công việc; chi trả thu nhập ở một số đơn vị vẫn mang tính cào bằng hoặc bình quân.

Đối với việc thực hiện Nghị định 130: Một số cơ quan hành chính chưa thật sự quan tâm chỉ đạo sát sao để triển khai thực hiện; về nhận thức và quán triệt chủ trương thực hiện cơ chế tự chủ của một bộ phận cán bộ công chức chưa cao, chưa thấy việc thực hiện cơ chế tự chủ là tạo điều kiện cho thủ trưởng và cán bộ công chức trong đơn vị chủ động sử dụng biên chế và kinh phí được giao, gắn việc sử dụng kinh phí với chất lượng và hiệu quả công việc.

Một số cơ chế chính sách chưa được cụ thể hóa, hoàn thiện nên các cơ quan còn bị động trong quá trình triển khai thực hiện.

Một số cơ quan còn lúng túng trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và các tiêu chí làm căn cứ đánh giá cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ, mà chủ yếu vẫn căn cứ vào chương trình công tác được cấp trên giao hàng năm.

Qua thanh tra các lĩnh vực thấy, còn có một số bất cập về cơ chế chính sách cần phải bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị và xu thế phát triển của xã hội, đảm bảo các đơn vị hoạt động hiệu quả, đáp ứng ngày một cao nhu cầu xã hội. Một số tồn tại, bất cập cần được xem xét như: Một số đơn vị, vừa đồng thời thực hiện các dự án, nhiệm vụ Nhà nước giao, vừa thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ, nên không thể tách bạch rõ về quỹ tiền lương, chi phí quản lý, các khoản chi phí chung... Nhiều đơn vị đã không xây dựng đơn giá tiền lương, thực hiện hạch toán quĩ tiền lương của hoạt động dịch vụ mà thường ký các hợp đồng thuê khoán chuyên môn, trả tiền công theo các hợp đồng vụ việc; Như vậy thực chất đã ẩn cả thu nhập tăng thêm, thậm chí là các khoản chi phúc lợi, lễ tết... vào trong chi phí trước thuế TNDN, đã dẫn tới giảm số thuế TNDN phải nộp NSNN và không thể hạch toán được chênh lệch thu-chi, không có nguồn để trích quỹ theo đúng quy định. Từ những vấn đề vướng mắc như trên, cho thấy cần có sự nghiên cứu, tổng kết, đánh giá rõ hơn để xây dựng cơ chế, chính sách quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp kinh tế thực hiện cơ chế tự chủ toàn bộ kinh phí theo hướng chuyển dần sang hạch toán đủ chi phí theo mô hình doanh nghiệp, NSNN không cấp kinh phí mua sắm máy móc, thiết bị cho đơn vị; đơn giá thanh toán các nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng đã bao gồm đủ các chi phí.

Hiện tại, đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ hoàn toàn theo Nghị định 43 và Thông tư 71, không khống chế mức tiền lương tăng thêm. Việc không quy định mức tiền lương tăng thêm tối đa đối với các đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo kinh phí hoạt động, dẫn đến các đơn vị có lợi thế về số thu không những thuận lợi cho việc hoàn thành các nhiệm vụ Nhà nước giao do luôn có sẵn nguồn kinh phí, mà còn được chi tiền lương tăng thêm không khống chế, dẫn đến thu nhập của cán bộ nhân viên có chênh lệch về tiền lương tăng thêm lớn.

Một số đơn vị không xác định được số chênh lệch thu chi thường xuyên, nguyên nhân là do: Qui định mức trích các quỹ khen thưởng, phúc lợi theo tỷ lệ % trên số thu của từng loại thu phí, lệ phí, các khoản trích nộp từ các hoạt động dịch vụ... theo tỷ lệ đó, nhiều đơn vị đã quyết toán chi khen thưởng, phúc lợi vào chi thường xuyên nên đã không xác định chênh lệch thu chi để trích lập các quỹ theo đúng qui định.

Qui chế chi tiêu nội bộ qui định cụ thể mức chi tiền lương tăng thêm, dẫn tới hàng tháng đã quyết toán chi tiền lương tăng thêm vào chi thường xuyên trước khi xác định chênh lệch thu chi. Do không xác định được chênh lệch thu - chi trước khi trả tiền lương tăng thêm, trích lập các quĩ nên không đánh giá được kết quả tăng thu, tiết kiệm chi của các đơn vị; tiền lương tăng thêm và chi khen thưởng, phúc lợi chưa trở thành động lực khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi.

Xác định doanh thu, chi phí hoạt động dịch vụ: Còn có đơn vị không tổ chức hạch toán riêng doanh thu, chi phí đối với từng hoạt động dịch vụ, do đó đã không thể tách bạch rõ về quỹ tiền lương, chi phí quản lý, các khoản chi phí khác... của các hoạt động nhà nước giao theo chức năng nhiệm vụ với các hoạt động dịch vụ mà đơn vị đã cung cấp cho thị trường, gây khó khăn trong việc xác định mức thu phí, lệ phí theo tôn chỉ mục đích hoạt động cung cấp các dịch vụ cho xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận, với việc xác định giá dịch vụ của một số đơn vị đối với khách hàng...

(Ngân Vũ)

Tin mới