Thứ nhất, tăng trưởng tín dụng chậm lại. Do bị chi phối bởi 2 yếu tố:
(i) Lãi suất cho vay cao khiến nhu cầu chững lại. Ngay trong những tháng đầu năm 2010, lãi suất cho vay đã có xu hướng tăng cao.
Mặc dù mức trần lãi suất huy động hiện tại 10,5%/năm vẫn có hiệu lực nhưng lãi suất huy động thực tế đã ở khoảng 10 - 12%/năm, khiến lãi suất cho vay thực tế tăng lên 14 - 19%. Điều này khác hẳn với diễn biến đầu năm 2009, khi gói hỗ trợ lãi suất kéo lãi suất cho vay xuống mức thấp, chỉ khoảng 6,5%/năm.
Mức lãi suất thực tế vượt biên độ cho phép dường như đang phản ánh đúng cung cầu và được thị trường chấp nhận . Lãi suất cho vay trung và dài hạn đã được áp dụng lãi suất thỏa thuận và NHNN đang cân nhắc việc áp dụng lãi suất thỏa thuận cho các khoản vay ngắn hạn.
Gần đây, đang có những bàn luận về việc nới lỏng trần lãi suất huy động 10,5%/năm. Tuy nhiên, việc nới lỏng như vậy rất dễ tạo điều kiện cho các ngân hàng tiến hành "đua" lãi suất, gây tác động xấu cho thị trường.
Trên thực tế, mặt bằng lãi suất cho vay cao đang gây trở ngại cho tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, rất có thể NHNN sẽ có biện pháp để kẻo mặt bằng lãi suất xuống.
(ii) Chính sách tiền tệ có xu hướng thắt chặt hơn, áp lực lên VNĐ và lo ngại về lạm phát cao quay trở lại khiến chính sách tiền tệ giảm bớt nới lỏng cuối năm 2009 và xu hướng sẽ chặt hơn trong năm 2010.
Tăng trưởng tín dụng mục tiêu cho năm 2010 là 25% so với mức tăng 37,7% của năm 2009. Mức tăng trưởng tín dụng thực tế có thể cao hơn 25%, nhưng thông điệp “ổn định vĩ mô" đã rõ ràng.
Thứ hai, nguồn thu ngoài lãi của nhiều ngân hàng sẽ giảm. Nguyên nhân chính là do:
(i) Sàn vàng bị đóng cửa. Cuối năm 2008, nhiều NHTM mở sàn vàng, hứa hẹn một nguồn thu ổn định từ phí giao dịch vàng và các khoản cho vay kinh doanh vàng.
Tuy nhiên, kỳ vọng này nhanh chóng bị chặn lại do việc kinh doanh vàng trên tài khoản tạo ra nhiều rủi ro cho việc quản lý nhà nước về tỷ giá. Quyết định đóng cửa các sàn vàng đã được đưa ra, hạn cuối là ngày 31/3/2010. Hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài cũng bị hạn chế.
(ii) Kinh doanh chứng khoán khó tìm lại sức bật. Năm 2009, các ngân hàng có một khoản thu nhập rất lớn từ hoàn nhập dự phòng đầu tư tài chính. Nguồn thu này sẽ là không đáng kể trong năm 2010.
TTCK năm 2010 sẽ không còn những đợt sóng lớn như năm 2009, do thị trường phải tìm động lực tăng trưởng từ tốc độ và chất lượng phục hồi kinh tế, mà hiện tại vẫn còn nhiều ẩn số.
Nếu như tốc độ và chất lượng phục hồi kinh tế không tốt, rất có thể TTCK sẽ ở thế đi ngang. Đầu tư chứng khoán năm 2010 sẽ khó hơn và ít mang lại những khoản lợi nhuận lớn như năm 2009.
Thứ ba, bức tranh lợi nhuận năm 2010. Khi nguồn thu ngoài lãi giảm thì ngân hàng sẽ trở về với nguồn thu chính từ lãi với sự hỗ trợ của hai yếu tố:
(i) Tăng trưởng tín dụng. Cuối năm 2009, các NHTM đã phải giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng do sức ép của NHNN. Đặc biệt là trong tháng 12 (tăng trưởng tín dụng tháng 12 chỉ là 0,87% so với mức tăng 37,7% của cả năm).
Sang năm 2010, khi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2009 đã hoàn tất thì cũng là lúc các NHTM bung ra cho vay trở lại. Mức tăng trưởng tín dụng mục tiêu năm 2010 là 25%, mặc dù thấp hơn năm 2009, nhưng vẫn là một mức tương đối cao.
(ii) Lợi nhuận lãi biên được cải thiện. Tăng trưởng huy động luôn thấp hơn tăng trưởng tín dụng đã khiến lãi suất huy động tăng cao và lợi nhuận lãi biên bị giảm sút trong nửa cuối năm 2009. Sang năm 2010, mặt bằng lãi suất đã có sự thay đổi lớn.
Lãi suất huy động từ 10 – 12%/năm, lãi suất cho vay 14 - 19%/năm, lãi suất thỏa thuận được áp dụng cho các khoản vay trung - dài hạn và cho vay tiêu dùng.
NHNN có chủ trương để tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán cao hơn tăng trưởng tín dụng trong năm 2010. Như vậy, lợi nhuận lãi biên trong năm 2010 sẽ tốt hơn năm 2009.
Thứ tư: rủi ro của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
(i) Nợ xấu. Cuộc khủng hoảng kéo dài trong năm 2008 đã làm tăng tỷ lệ nợ xấu. Theo công bố của NHNN thì tỷ lệ nợ xấu năm 2008 tăng lên 3,5% so với mức 2% của năm 2007. Cuối năm 2009, tỷ lệ nợ xấu giảm còn 2,2%.
Tuy nhiên, con số và diễn biến nợ xấu thực tế của các ngân hàng còn nhiều phức tạp do có sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế và do các NHTM thường có cách để che dấu các khoản nợ quá hạn.
Cho vay đầu tư bất động sản vẫn ở mức cao và trong bối cảnh thị trường bất động sản đang chững lại từ cuối năm 2009 thì nguy cơ không trả được nợ của một số chủ đầu tư trong năm 2010 có thể trở thành hiện thực.
(ii) Quản trị doanh nghiệp. Khá phổ biến ở các NHTM cổ phần của Việt Nam là phần lớn quyền sở hữu ngân hàng tập trung vào một hoặc một nhóm cổ đông lớn.
Mặt tiêu cực của tình trạng này là nguy cơ thao túng ngân hàng của các cổ đông lớn cho mục đích riêng, ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông khác. Thực tế, những năm vừa qua đã có hiện tượng bất bình đẳng giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ trong một số ngân hàng.
Thứ năm, nhiều ngân hàng sẽ niêm yết trong năm 2010. Mục đích niêm yết là để thuận lợi cho việc tăng vốn. Do có nhiều ngân hàng lên niêm yết, nhóm cổ phiếu ngân hàng sẽ có tác động mạnh hơn đến diễn biến của chỉ số chứng khoán.
Sau một thời gian dài chỉ có 2 ngân hàng niêm yết là ACB và Sacombank, năm 2009 TTCK đón nhận thêm 4 ngân hàng lên niêm yết là Vietcombank, Vietinbank, Eximbank và SHB.
Ngoại trừ SHB là ngân hàng nhỏ, 3 ngân hàng còn lại đều là những ngân hàng hàng đầu của Việt Nam, có quy mô và thị phần lớn . Cuối năm 2009, nhiều ngân hàng khác cũng đã chuẩn bị để niêm yết chính thức trong năm 2010 như MB, SCB, OCB, DaiABank, Westem Bank.
Với quy định mức vốn điều lệ tối thiếu 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010, không ít ngân hàng đã lựa chọn việc lên sàn để kế hoạch tăng vốn được thuận lợi hơn.
Với vốn điều lệ lớn và có số nhiều (dự kiến có khoảng 10 ngân hàng lên niêm yết trong năm 2010) nhóm cổ phiếu ngân hàng sẽ có tác động lớn đến diễn biến của chỉ số chứng khoán. Tuy nhiên, vai trò dẫn dắt vẫn có thể sẽ thuộc về một số cổ phiếu truyền thống.
Nguyễn Đức Hùng Linh, SSI