Cơ hội và rủi ro của thị trường chứng khoán Việt Nam 2011

eFinance - 

Co hoi va rui ro cua thi truong chung khoan Viet Nam 2011

Năm 2011, kỳ vọng chính sách tiền tệ sẽ trôi chảy hơn, những cú shock trong chính sách sẽ giảm dần (đặc biệt những cú shock tín dụng), và thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ biến động cùng pha với thị trường chứng khoán thế giới.

Ổn định kinh tế vĩ mô để duy trì đà tăng bền vững

Trong bối cảnh nền kinh tế 2011 được dự báo đầy biến động, quan điểm thống nhất của rất nhiều chuyên gia tại Hội thảo "Cơ hội, rủi ro của thị trường chứng khoán Việt Nam & triển vọng đầu tư ngành" vừa diễn ra sáng nay, ngày 21/12, tại Hà Nội vẫn là phải ổn định kinh tế vĩ mô để duy trì đà tăng bền vững cho thị trường chứng khoán.

Vừa qua, cơ quan xếp hạng tín dụng Moody đã hạ bậc tín nhiệm đối với trái phiếu của Việt Nam từ mức Ba3 xuống mức B1 do rủi ro liên quan đến khủng hoảng cán cân thanh toán, áp lực mất giá lên tiền đồng và lạm phát tăng cao, cũng như vấn đề nợ của tập đoàn Vinashin. Moody cho rằng lạm phát tại Việt Nam, sau khi lên 11% vào tháng 11/2010 (so với cùng kỳ năm ngoái) – mức cao nhất trong 20 tháng, sẽ gây ra nhiều áp lực lên tỷ giá hối đoái và hiện tượng rút vốn.

Song song với việc hạ bậc tín nhiệm của Việt Nam, 6 ngân thương mại là Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB); Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Quân đội (MBB), Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB), Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (TCB) và Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) cũng bị hạ bậc xếp hạng tiền gửi ngoại tệ từ mức B1 xuống B2. Hạng mức tín nhiệm vay nợ B1 là thứ 13 trong 16 bậc theo xếp hạng của Moody’s, mức bù rủi ro lãi suất trái phiếu chính phủ tương ứng là 3.5% so với hạng tốt nhất. Đây là một thứ bậc rất thấp khiến cho các nhà đầu tư sẽ thận trọng khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

Hành động này của cơ quan trên đã tác động không nhỏ đến tâm lý của nhiều nhà đầu tư, dẫn đến phiên giảm khá mạnh của thị trường trước phiên tăng điểm trở lại vào cuối tuần vừa rồi.

Thực tế thời gian qua, bất ổn vĩ mô, giá vàng, giá USD, lãi suất liên tục tăng đã gây ra những quan ngại cho nhà đầu tư. Từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng 2 lần, hiện duy trì ở mức 2,1%. Mặt khác, các ngân hàng thương mại dù đã thống nhất được mặt bằng huy động ở mức 14% nhưng lãi suất huy động thực ở một số nơi vẫn hơn 14%. Lãi suất liên ngân hàng vẫn ở mức khá cao, mức cho vay qua đêm vẫn trên mức 12%.

Hệ lụy là năm 2010, các thị trường khác vẫn tăng mạnh (thị trường chứng khoán Mỹ tăng trưởng 2000%) thì thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng thấp nhất. Trong khi các nước Đông Á đang tìm cách ngăn chặn dòng vốn nóng chảy vào thì việc huy động vốn của các quỹ nước ngoài tại Việt Nam lại gặp không ít khó khăn. Thị trường chứng khoán Việt Nam gần như biến động lệch pha hoàn toàn so với thị trường chứng khoán thế giới. .

Theo Ths Hoàng Anh Tuấn, Công ty Chứng khoán BCS, để duy trì đà tăng bền vững, trong năm 2011, Chính phủ cần có những biện pháp quyết liệt hơn để giải quyết dứt điểm những bất ổn này, ổn định lại nền kinh tế vĩ mô. Trong đó, áp lực tỷ giá và lạm phát là vấn đề đầu tiên phải giải quyết. Một khi lạm phát được giải quyết thì lãi suất trên thị trường cũng có xu hướng lắng dịu và thị trường chứng khoán sẽ tăng trưởng bền vững hơn.

Ngân hàng và chứng khoán tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt thị trường

Dự báo về thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2011, Ths Tống Minh Tuấn, Công ty chứng khoán BCS cho rằng biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ gắn chặt với chứng khoán thế giới hơn bởi những rủi ro về lạm phát, tỷ giá, lãi suất sẽ dần hạ nhiệt. Nói cách khác, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ biến động cùng pha với thị trường chứng khoán thế giới.

Còn trước mắt, các chuyên gia của BCS có lời khuyên với các nhà đầu tư: Các chỉ số hiện nay vẫn đang ở mức thấp nhất trong năm trong khi động lực mua vào của nhà đầu tư trong nước vẫn ở mức yếu. Vì vậy, các nhà đầu tư ngắn hạn vẫn nên cẩn trọng để theo dõi phản ứng của thị trường trước khi có những quyết định đầu tư tiếp theo.

Các nhà đầu tư nên xem xét để có sự đầu tư thích hợp, dựa theo phân loại 4 nhóm đầu tư sau:

Nhóm tăng trưởng tốt gồm: xuất khẩu (dệt may, da giầy, thủy sản…); hỗ trợ xuất nhập khẩu (dịch vụ cảng biển); tiêu dùng nội địa (chế biến thực phẩm, đồ uống, hàng tiêu dùng cá nhân và gia đình); vật liệu xây dựng (gạch) và vật liệu xây dựng đặc thù; khai khoáng: kim loại quý và than.Ngành nhựa và hóa chất tăng 7.66%, chứng khoán tăng 4.71%. Trong khi đó ngành giảm điểm mạnh nhất là sản xuất nông nghiệp giảm tới 5.58%.

Nhóm tăng trưởng khá: bất động sản (đô thị và du lịch); xây dựng và xây lắp; vật liệu cơ bản (sắt, thép, cao su, nhựa công nghiệp)

Nhóm tiếp tục ổn định: dược phẩm, dầu khí, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm…

Nhóm khó khăn: vận tải biển và xi măng

Các nhóm ngành tiềm năng và nhóm cổ phiếu đáng chú ý:

Bất động sản – xây dựng: LGL, D2D, FDC, DIG, LCG, ITC, SJS, HDC, TDH

Thép: VIS, HPG, VGS, HLA, HSG, DTL

Dệt may: TCM, TNG, GIL

Thủy sản: AVF, VHC, MPC, ABT

Dịch vụ cảng biển: GMD, VSC, DVP, DXP

Bia: HAD

Khoáng sản, kim loại quý: HGM, KSS, KTB

Tài chính (khi thị trường tốt): VCB, CTG

(HTH)

Tin mới