Đối mặt với nguy cơ thất truyền Thôn Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội được coi là đất tổ ca trù Thăng Long với lịch sử phát triển hát ca trù từ gần 600 năm nay. Nhà thờ phụng ông tổ ca trù là nơi vang tiếng đàn, hát, tiếng trống chầu thường xuyên của CLB ca trù Lỗ Khê từ nhiều năm qua. Cụ Hoàng Kỷ, 82 tuổi, người được mệnh danh là đệ nhất trống chầu Lỗ Khê, một trong ba nghệ nhân cao niên nhất của làng, không chỉ hướng dẫn các buổi sinh hoạt ca trù, mà còn chính là người khôi phục ba điệu múa ca trù là múa bỏ bộ, tứ linh và múa tiên. Tuy nhiên hiếm có CLB ca trù nào mà có số lượng đông đảo với 56 thành viên thuộc nhiều thế hệ tham gia như ở Lỗ Khê. CLB ca trù này cùng với các CLB ở nội thành Hà Nội, Đông Duyên (Thường Tín), Thượng Mỗ (Đan Phượng), La Khê (Hà Đông) cũng đang được thành phố Hà Nội có kế hoạch nghiên cứu, bảo tồn vốn văn hóa phi vật thể hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Thời gian qua, sân khấu ca trù có bước khởi sắc với sự xuất hiện của nhiều CLB ca trù như CLB ca trù UNESCO, Thăng Long, Thái Hà... Trung tâm văn hóa ca trù Thăng Long được đặt trong khuôn viên của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam với ba suất diễn một ngày đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Hàng chục cuộc liên hoan, thi hát ca trù tạo cơ hội quảng bá ca trù tới cộng đồng và xã hội, khuyến khích CLB Ca trù phát triển. Mới đây, liên hoan ca dân ca Việt Nam 2009 được tổ chức rầm rộ suốt từ trong nam ngoài bắc thu hút những đào nương, kép đàn nhiệt tình tham gia. Hà Nội kể từ khi sáp nhập thêm Hà Tây trở thành địa phương có số đào nương nhiều nhất nước (130 người), nhưng số lượng kép đàn và người chơi trống chầu lại đứng thứ hai sau Quảng Bình (59 người). Đây cũng là hai địa danh có số lượng CLB hát ca trù nhiều nhất, trong số 63 CLB hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền dạy ca trù trên cả nước. Nói về hát ca trù có từ giữa thế kỷ 17, ông Mai Xuân Thành, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Bình tự hào nói: "Quảng Bình còn lưu giữ được nguyên gốc 21 điệu múa ca trù cổ như múa dâng hương, múa cờ, múa lộn phách... Khi hát, các nghệ nhân thường hát đơn, hát đôi, hát ba và sử dụng đôi sinh (còn gọi là phách, sanh) rất điệu nghệ, tay cuốn theo nhịp trống chầu, tiếng đàn đáy, chân đi hình quả trám, tay chân phối quạt, múa cờ hoặc múa khăn tùy theo nội dung từng điệu hát. Trước khi vào buổi biểu diễn, các nghệ nhân đến đình làng hoặc nhà thờ họ dâng hương rất kính cẩn. Tuy nhiên, nghệ thuật ca trù vẫn đang trong tình trạng bảo vệ khẩn cấp, bởi trong số khoảng 56 làn điệu của nghệ thuật ca trù thống kê được thì hiện nay cả nước chỉ giữ được khoảng trên 30 làn điệu. Số lượng nghệ nhân có thể hát được từ 10 làn điệu ca trù trở lên không nhiều, hầu hết chỉ có thể hát từ 1-5 làn điệu. Nguy cơ thất truyền có thể do đội ngũ những người truyền dạy ca trù ngày càng mỏng. Hiện chỉ còn 12 nghệ nhân có thể trình diễn thành thục kỹ thuật của ca trù, nhưng tuổi đã cao, sức yếu, trí nhớ suy giảm, khó khăn trong việc truyền dạy. Ngay ở làng ca trù Chanh Thôn, Phú Xuyên, Hà Nội mang phong cách riêng từ nghệ thuật phát âm, ngân hơi, các nghệ nhân nổi tiếng biết và nhớ lời ca cổ như Nguyễn Thị Vượn, Nguyễn Thị Khướu, Nguyễn Văn Khoái, Nguyễn Văn Luận giờ cũng đã ở tuổi xưa nay hiếm. Không muốn ca trù bị thất truyền, CLB Chanh Thôn với việc tích cực truyền dạy của các nghệ nhân già thu hút đông người tới học. Có tới bốn thế hệ hăng say theo học nhưng chỉ có một số bài bản tiêu biểu của ca trù như Tỳ bà hành, Dịp ba cung Bắc, Hát nói, Hát Mưỡu thường xuyên được truyền dạy. Hà Tĩnh, vốn là nơi sản sinh ra các danh nhân tài hoa, đam mê sáng tác và hát ca trù, nay hát ca trù đang đứng trước nguy cơ mai một, mất mát bởi thử thách của thời gian cũng như sự dửng dưng của con người. Ông Phan Thư Hiền, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh trăn trở: "Lực lượng nghệ nhân ca trù ở tỉnh đếm đầu ngón tay và đang lần lượt ra đi. Số còn lại thì trí nhớ của họ đang ngày càng mai một, ít cán bộ am hiểu và tâm huyết nghiên cứu, tìm hiểu, hoạt động ca trù. Hầu hết các tư liệu đều là những tài liệu sao chép, không có bản gốc, thậm chí tam sao thất bản". Đây cũng là vấn đề khó khăn trong việc bảo tồn ca trù hiện nay ở các địa phương. Kế hoạch "dài hơi" cho bảo tồn Viện Âm nhạc đang sở hữu 42 bài bản ca trù, 7 điệu múa, 117 băng- đĩa tiếng sưu tầm điền dã, 250 băng-đĩa hình, 25 cuốn sách viết về ca trù... Ngoài ra còn một khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu có được sau bảy cuộc hội thảo khoa học về ca trù được tổ chức ở cấp quốc tế, quốc gia và địa phương từ năm 1990 đến nay. TS Lê Thị Minh Lý, Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa khẳng định: "Theo Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003, để bảo đảm cho việc nhận dạng để bảo tồn, mỗi nước dựa trên những điều kiện thực tế riêng, phải lập ra một hoặc nhiều danh mục kiểm kê về di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ mình. Kiểm kê ca trù vừa qua là một trong những công việc được đặt ra hàng đầu nhằm nhận diện di sản, đưa ra định hướng để có những nỗ lực bảo tồn trong tương lai". Sau kiểm kê, kế hoạch bảo tồn ca trù đang thực hiện một cách "dài hơi" và có chiều sâu hơn. TS Lê Văn Toàn, Viện trưởng Viện Âm nhạc cho rằng, công tác thống kê, kiểm kê di sản ca trù cần phải tiếp tục, tiến tới xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về ca trù toàn quốc tại Viện Âm nhạc. Ông đưa ra một số nội dung cần làm ngay, như thực hiện xây dựng giáo trình đào tạo ca trù nhằm đưa bộ môn nghệ thuật này vào giảng dạy trong các trường nhạc; phục hồi, truyền dạy ca trù theo từng giai đoạn với những kế hoạch cụ thể trong ba, bốn, mười, 20 năm; truyền bá, phổ cập nghệ thuật ca trù trong các trường phổ thông, đại học bằng các hoạt động ngoại khóa; bảo tồn và phục hồi một số di tích liên quan tới ca trù ở một số địa phương... 63 câu lạc bộ đang hoạt động ca trù trên cả nước có thể nằm trong một Hiệp hội ca trù hoặc Câu lạc bộ ca trù Việt Nam với hội đồng nghệ thuật có trình độ thẩm định về chuẩn mực nghệ thuật này. Đây là đòi hỏi tất yếu và cần thiết với việc đưa ca trù chính thống tới khán giả trong và ngoài nước. Ca nương Phạm Thị Huệ, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long đề xuất thành lập những đơn vị tổ chức do những người có chuyên môn, những nhà nghiên cứu thông qua ý kiến các nghệ nhân lão thành, thông qua các thư tịch cổ để xây dựng lại một hệ thống tổ chức cho làng ca trù trong xã hội Việt Nam đương đại. Để thực hiện bảo tồn và phát huy có hiệu quả giá trị của ca trù, nhà nghiên cứu Nguyễn Bình Định cho rằng, cần có những chính sách kịp thời và phù hợp để tôn vinh, đãi ngộ những nghệ nhân giỏi cũng như tạo điều kiện, khuyến khích, đầu tư kinh phí cho các hoạt động ca trù. Tính đến nay, hơn ba tháng kể từ ngày Hồ sơ Hát Ca trù của người Việt đệ trình UNESCO xem xét công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Hồ sơ đang được thẩm định, hy vọng sẽ góp phần bảo tồn và truyền dạy sẽ đưa ca trù thành loại hình hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp hơn. Số người biết đàn, hát, múa ca trù chỉ còn khoảng 769 người ở 14 tỉnh, thành phố Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh. Trong đó có 513 đào nương và 256 kép đàn, người đánh trống chầu. Đó là thông tin được Cục Di sản văn hóa và Viện âm nhạc mới công bố trong một hội nghị kiểm kê ca trù trong tháng sáu. Trà My