Thập kỷ hoàn tất hội nhập
Năm 2000 - năm bản lề giữa hai thế kỷ, Việt Nam có hai sự kiện quan trọng. Thứ nhất là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp - một bước tiếp theo của “khoán 10” trong nông nghiệp - được nâng cấp và mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế của đất nước - hoàn tất việc mở cửa ở trong nước, tạo điều kiện cho sự ra đời của hàng trăm ngàn doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Thứ hai là Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) được ký kết, chuẩn bị cho Việt Nam ra biển lớn, bước vào thập kỷ hoàn tất việc mở cửa với thế giới, với việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Thập kỷ này, Việt Nam cũng bị tác động bởi hai cuộc khủng hoảng: cuộc khủng hoảng chu kỳ của nước Mỹ, bắt đầu từ năm 2000, cộng hưởng với sự kiện 11/9/2001; cuộc khủng hoảng thứ hai cũng bắt đầu từ nước Mỹ, lan nhanh sang các nước, chuyển thành cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Mặc dù vậy, Việt Nam đã không bị rơi vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng này, kinh tế không bị suy thoái, mà chỉ suy giảm tốc độ tăng trưởng.
Năm 2010, nếu đạt được tốc độ tăng trưởng theo mục tiêu (6,5%), thì GDP theo giá so sánh năm 2010 sẽ gấp 2,1 lần năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 7,21%. GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái nếu năm 1990 mới đạt 118 USD, năm 1995 đạt 288 USD, năm 2000 đạt 402 USD, năm 2005 đạt 639 USD, thì năm 2008 đạt 1.034 USD, năm 2009 đạt khoảng 1.063 USD và năm 2010 sẽ đạt khoảng 1.200 USD. Nếu loại trừ yếu tố mất giá của USD, thì Việt Nam cũng đã có mức GDP bình quân đầu người vượt qua nhóm nước có thu nhập thấp.
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực cả về ngành kinh tế (tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản giảm từ 46,3% năm 1988, xuống còn 20,66% năm 2009, của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng tương ứng tăng từ 23,96% lên 40,24% và của nhóm ngành dịch vụ tăng từ 29,74% lên 39,10%); cả về thành phần kinh tế (tỷ trọng trong GDP của kinh tế nhà nước giảm từ 38,52% năm 2000 xuống dưới 34% năm 2009, của kinh tế tập thể giảm từ 8,58% xuống còn dưới 6%, của kinh tế cá thể giảm từ 32,31% xuống còn dưới 30%, của kinh tế tư nhân tăng từ 7,31% lên trên 32%, của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 13,28% lên trên 19%).
Năm 2009 so với năm 2000, xuất khẩu cao gấp trên 3,9 lần, xuất khẩu bình quân đầu người cao gấp gần 3,5 lần. So với GDP, năm cao nhất (2008) xuất khẩu bằng 70,4%, nhập khẩu bằng 90,6%, cộng cả xuất khẩu, nhập khẩu đạt 161% - một tỷ lệ cao thứ 5 trên thế giới, thể hiện độ mở cửa khá cao của nền kinh tế Việt Nam.
Chỉ số phát triển con người (HDI) đã đạt được kết quả về hai mặt. Một mặt là thứ bậc về HDI đã tăng lên qua các năm. Mặt khác, thứ bậc về HDI của Việt Nam cao hơn thứ bậc về GDP bình quân đầu người, có nghĩa là các chỉ số về tuổi thọ, về trình độ văn hóa cao hơn chỉ số về thu nhập.
Vị thế đối ngoại của Việt Nam cũng được nâng lên. Đến nay, Việt Nam có quan hệ buôn bán với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; gia nhập WTO; là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong hai năm 2008-2009; là Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á trong năm 2010.
Thập kỷ vươn dậy thành quốc gia công nghiệp
Như vậy, nếu thập kỷ 1981-1990, Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế - xã hội, bị bao vây cấm vận; thập kỷ 1991 - 2000, nhờ đổi mới đã thoát khỏi khủng hoảng, thoát khỏi bao vây cấm vận, chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì thập kỷ 2001-2010 ra biển lớn, chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình. Vậy thập kỷ tới sẽ có đặc trưng gì?
Nếu nói một cách vắn tắt, đặc trưng cơ bản chủ yếu của thập kỷ tới là đến năm 2020, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; là thập kỷ tái cấu trúc nền kinh tế để nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Nước công nghiệp là nước đạt được các tiêu chí sau.
Thứ nhất, GDP bình quân đầu người ít nhất cũng thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình cao (trên 3.036 USD). Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người của nước ta đạt khoảng 1.200 USD.
Để GDP bình quân đầu người đạt trên 3.036 USD, tức gấp khoảng 2,5 lần trong vòng 10 năm, thì bình quân 1 năm phải tăng 10,4% và tổng GDP phải tăng cao hơn nữa để còn trừ đi tốc độ tăng dân số. Tuy nhiên, với xu hướng “cánh kéo tỷ giá” giữa VND/USD trong điều kiện càng mở cửa, hội nhập sẽ có xu hướng giảm đi, với tốc độ tăng tỷ giá VND/USD sẽ không cao, thì mục tiêu trên cơ bản có thể đạt được. Thực tế bình quân thời kỳ 1999-2009, GDP tính bằng USD đã cao gấp 3,2 lần, bình quân 1 năm tăng 12,3%.
Thứ hai, chuyển từ nước nông nghiệp sang công nghiệp, nên tỷ trọng nông, lâm nghiệp - thủy sản giảm xuống, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng lên. Hãy tham khảo cơ cấu kinh tế của Thái Lan, Malaysia và Hàn Quốc năm 2004: của Thái Lan là 9,9%, 44,1% và 46,1%; của Malaysia là 10%, 48% và 42%; của Hàn Quốc là 3,3%, 36,3% và 60,4%! Đây là những nước công nghiệp mới, có cơ cấu mà Việt Nam có thể tham khảo để hướng tới. Tuy nhiên, công nghiệp phải chủ yếu là công nghiệp chế biến, chứ nếu là khai thác tài nguyên hay mang nặng tính gia công, thì vẫn không được gọi là nước công nghiệp.
Nước công nghiệp cũng là nước có cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng: tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp - thủy sản giảm, tỷ trọng lao động công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng lên. Hiện nay, cơ cấu lao động của Việt Nam là 52,5%, 20,8% và 26,7%. Để trở thành nước công nghiệp, cơ cấu trên cần phải đạt là khu vực I: 25% và khu vực II và III đạt 75%!
Nước công nghiệp cũng là nước có xuất khẩu hàng chế tác chiếm tỷ trọng cao trong tổng xuất khẩu hàng hóa, tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao ngày càng lớn trong tổng xuất khẩu hàng chế tác.
Thứ ba, chuyển từ nước sử dụng lao động thủ công là chủ yếu sang sử dụng máy móc, điện khí hóa; chuyển từ năng suất lao động thấp sang năng suất lao động cao. Năng suất lao động năm 2008 của Việt Nam mới đạt 1.960 USD, còn thấp xa so với các mức năng suất 4.514,1 USD của Thái Lan, 11.276,2 USD của Malaysia, 29.057,6 USD của Hàn Quốc vào năm 2004.
Nước công nghiệp theo hướng hiện đại là nước có cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại. Nếu tiếp cận theo công dụng trực tiếp, nước công nghiệp theo hướng hiện đại là nước có kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội hiện đại. Kết cấu hạ tầng kinh tế là toàn bộ cơ sở hạ tầng bảo đảm trực tiếp cho phát triển kinh tế, gồm: mạng lưới giao thông - vận tải; cấp thoát nước, điện, khí; bưu chính - viễn thông, thông tin liên lạc; hệ thống thủy lợi. Kết cấu hạ tầng xã hội là toàn bộ cơ sở hạ tầng bảo đảm trực tiếp cho phát triển xã hội, gồm: nhà ở, các cơ sở trường học, y tế, văn hóa; cơ sở nghiên cứu khoa học; công trình công cộng; cơ sở và công trình bảo vệ môi trường...
Tiếp cận theo ý nghĩa vật chất và phi vật chất, nước công nghiệp hiện đại có kết cấu hạ tầng cứng và kết cấu hạ tầng mềm. Kết cấu hạ tầng cứng là toàn bộ cơ sở hạ tầng vật chất bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội. Kết cấu hạ tầng mềm là toàn bộ cơ sở luật pháp, cơ chế, chính sách, thông tin gắn với trí tuệ con người, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội.
Để tái cấu trúc nền kinh tế, có 8 vấn đề đặt ra. Đó là mô hình phát triển; cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấu doanh nghiệp; cơ cấu thị trường; cơ cấu thể chế kinh tế; cơ cấu nguồn nhân lực; cơ cấu vùng miền; cơ cấu đầu tư.
Mô hình phát triển của Việt Nam trong nhiều năm qua chủ yếu là tăng trưởng theo số lượng, phát triển theo chiều rộng, mà chưa tăng trưởng theo chất lượng, chưa phát triển theo chiều sâu. Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện ở chỗ tăng trưởng kinh tế chủ yếu do yếu tố vốn đầu tư (chiếm 57%), một phần nữa là do yếu tố tăng số lượng lao động (chiếm 20%); cả hai yếu tố số lượng, yếu tố phát triển theo chiều rộng trên đã chiếm tới 77,5%; trong khi tác động của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (bao gồm hiệu quả đầu tư, năng suất lao động) mới chiếm 22,5% - thấp hơn tỷ lệ 36-40% của các nước trong khu vực.
Đã đến thời kỳ, nếu không nâng cao chất lượng tăng trưởng, thì ngay cả việc tăng trưởng theo tốc độ (số lượng) như cũ cũng khó đạt được, nếu có đạt được thì cũng không bền vững và hiệu quả, sức cạnh tranh sẽ thấp.