Bà đi tập kết như một lẽ tự nhiên: có cha là liệt sĩ – luật sư Lê Đình Chi và mẹ là Bà mẹ VN anh hùng Lê Thị Tường Lân. Chồng đi chiến trường suốt nhiều năm, bà đã một mình nuôi ba con ngoan ngoãn, học hành đến nơi đến chốn, bản thân bà phấn đấu học tập lấy được bằng phó tiến sĩ dược khoa tại Liên Xô. Lý giải động lực giúp bà vượt qua mọi khó khăn, bà nói: "Tôi phấn đấu trước hết là để xứng đáng với cha mẹ và chồng tôi".
Những chặng đường đã qua của bà Lê Thị Thoa in đậm dấu ấn của người cha: luật sư Lê Đình Chi, một trí thức lớn, dám từ bỏ cuộc sống giàu sang để đi theo kháng chiến. Từ năm 1948, ông đã đảm nhiệm chức vụ Trưởng phòng Quân pháp Bộ tư lệnh Nam bộ, rồi GĐ Nha Quân pháp Nam bộ. Ngày 2/6/1949, ông đã hy sinh ở tuổi 37 trong một trận càn của thực dân Pháp tại Đồng Tháp Mười. Tại lễ truy điệu cha, cô bé Thoa lúc ấy chỉ mới 15 tuổi, đã lần đầu tiên gặp chàng thanh niên Trần Văn Trà hơn cô 14 tuổi. Ấn tượng đầu tiên ấy, bà nhớ lại: "Anh ấy đẹp trai, giọng nói sang sảng rất có uy". Nhưng mối lương duyên của hai người thì phải mấy năm sau mới thành.
Vợ chồng Thượng tướng Trần Văn Trà
Năm 18 tuổi, Thoa đang công tác tại một trạm y tế, rất nhiều chàng bộ đội để mắt đến, nhưng cô chưa ưng ai. Ông Lê Đức Thọ đã tác hợp cô với Trần Văn Trà và dặn dò: "Hôn nhân là việc hệ trọng cả đời, cháu mà không nghe lời chú thì sẽ hối hận về sau đấy". Thời điểm đó, Nam bộ được chia làm hai phân liên khu: miền Đông gồm các tỉnh tả ngạn và miền Tây gồm các tỉnh hữu ngạn sông Tiền. Đám cưới đã được lên kế hoạch, chú rể sẽ từ miền Đông về miền Tây gặp cô dâu, nhưng đi gần tới nơi thì bị gọi giật về tham gia một trận đánh... Gần hai năm sau, đám cưới của họ mới được diễn ra, đúng vào mùng 1 Tết năm 1954 tại chiến khu D, Tây Ninh với hành trình: cô dâu được tổ chức sắp đặt đi về hướng chú rể. Đến nay, bà Thoa vẫn nhớ như in quà cưới do ông Phạm Hùng tặng là một lạng đường cát trắng, ông Vũ Khắc Bồng tặng một cục xà bông thơm... Đấy là những vật phẩm quý giá trong bối cảnh chiến khu thiếu thốn. Ngày gả con gái, tuy có được rể như ý nhưng bà Tường Lân lại nghẹn ngào, vì người miền Đông thời điểm đó một năm có đến sáu tháng phải ăn củ mì thay cơm. Nhưng rồi chính bà là người động viên tinh thần cho con gái. Bởi ngày trước cả gia đình bà đã quyết định rời bỏ cuộc sống giàu sang ở Sài Gòn để vào chiến khu mà không hề hối tiếc.
Tháng 7/1954, bà Thoa cùng chồng lên chuyến tàu cuối tập kết ra Bắc. Hai vợ chồng mới cưới đã phải sớm tạm biệt nhau để chu toàn phần việc của mỗi người: bà đến Thanh Hóa, ông ra Hà Nội. Những ngày ấy, bà rất cảm kích vì mọi người từ miền Nam ra đều được tổ chức cấp phát quân trang, khẩu phần ăn đầy đủ. Thời gian sau, bà về Hà Nội làm y tá tại Bệnh viện B303 (sau này đổi tên là BV Việt - Xô), tốt nghiệp ĐH Dược năm 1965. Từ năm 1969 - 1972, bà đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô (cũ) và hoàn tất luận án phó tiến sĩ dược khoa tại đây. Về nước, bà tiếp tục giảng dạy bộ môn sinh hóa tại ĐH Dược. Sau năm 1975, bà đảm nhiệm vị trí PGĐ Viện Pasteur tại TP.HCM cho đến khi nghỉ hưu.
Ba đứa con ra đời từ năm 1955 – 1967 đều do một mình bà chăm sóc, nuôi dạy trong lúc chồng đi B. Ông được cử vào Nam làm Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam. Sau này, Thượng tướng Trần Văn Trà đã tâm sự: "Với chúng tôi, tình cảm riêng tư bắt nguồn từ tình cảm yêu thương những người biết xả thân vì nước. Trong những tháng năm tôi ở chiến trường, bà ấy vừa nuôi dạy con vừa công tác hết sức nhẫn nại. Đến khi tôi về hưu, bà ấy lại lo chu đáo từng miếng ăn, giấc ngủ, thuốc thang giúp tôi vượt qua bệnh tật".
Về phần bà, sau ngày chồng mất vẫn còn nguyên vẹn niềm tự hào: "Nhờ có cách mạng mà tôi mới gặp được ông ấy. Chồng tôi là một người đàn ông tuyệt vời, cả cuộc đời không làm chuyện gì có lỗi với vợ con. Hạnh phúc gia đình tôi có được cũng là từ những ngày tháng gian lao sống trong lửa đạn. Cuộc sống hiện tại của tôi mãn nguyện bên con cháu, tôi đã trở thành bà cố ngoại. Chỉ có một điều hơi tiếc nuối là chúng tôi kết hôn 42 năm, nhưng chỉ ở với nhau được 18 năm trước khi ông mất vào năm 1996...".
Ngô Bá Nha