Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước: Tên mới, ưu đãi cũ

Xem tin gốc 

DVT.vn - 24 tháng trước 18 lượt xem

Việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang công ty TNTT một thành viên sẽ không nâng cao được tính cạnh tranh, nếu vẫn còn duy trì những ưu đãi cũ.

Việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang công ty TNTT một thành viên sẽ không nâng cao được tính cạnh tranh, nếu vẫn còn duy trì những ưu đãi cũ.
Ngày 1.7.2010 là thời điểm Luật Doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực. Trên thực tế đã có sự chuyển đổi ồ ạt các doanh nghiệp nhà nước sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên để có thể duy trì hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Liệu sự chuyển đổi có tăng thêm tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp này và tạo được sự bình đẳng giữa tất cả những người chơi?
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã có trao đổi về vấn đề này.

Khi doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, những ưu đãi nào còn được giữ lại?

Trên thực tế, khi chuyển đổi, chưa có ưu đãi nào bị cắt cả. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vẫn được sở hữu rất nhiều đất đai. Ngay cả những doanh nghiệp nhà nước nhỏ. Chẳng hạn, Hapro chiếm gần hết những vị trí tốt ở Hà Nội với giá rất ưu đãi, trong khi ai cũng biết ở Hà Nội là “tấc đất tấc vàng”. Cho dù các doanh nghiệp này có sử dụng sai mục đích, nhưng cũng không ai lấy lại được.

Nhờ vào nguồn tín dụng trong nước, tín dụng nước ngoài, hay được bổ sung vốn bằng những cách khác nhau, các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ số vốn cực kỳ lớn, nhưng đồng thời, nợ của họ cũng không nhỏ. Vì vậy, đối với những bảo lãnh vay nợ trước đây, Nhà nước vẫn phải gánh chịu, một khi các doanh nghiệp này không trả được nợ.

Quyền kinh doanh là ưu đãi lớn nhất không quy ra bằng tiền của doanh nghiệp nhà nước. Trong những lĩnh vực mà họ có mặt, các đối thủ khác không thể chen chân vào. Nhà nước vẫn hay nói rằng doanh nghiệp nhà nước cần đảm trách những lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa sẵn sàng tham gia, hoặc không muốn tham gia. Thực ra, doanh nghiệp tư nhân rất muốn nhảy vào, nhưng với sự có mặt của các doanh nghiệp nhà nước cùng với vô vàn ưu đãi, họ khó mà cạnh tranh nổi.

Điện là một ví dụ điển hình. Việt Nam kêu gọi các doanh nghiệp bên ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất điện. Tuy nhiên, ngay đến PetroVietnam là tập đoàn nhà nước với đầy đủ sự ưu ái mà nhảy vào lĩnh vực này còn gặp khó khăn với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), huống hồ gì các doanh nghiệp khác. Wartsila (Phần Lan) là doanh nghiệp đầu tiên định đứng ra làm nhà máy điện, nhưng không thương lượng được với EVN về giá nên đành phải rút lui, sau 9 năm theo đuổi.


Bà Phạm Chi Lan

Khủng hoảng sẽ kéo chỉ số chứng khoán xuống và như vậy cổ phần hóa sẽ khiến cho tài sản nhà nước bị mất đi. Bà nghĩ gì về điều này?

Đúng là có điều đó. Đầu năm 2007, khi giá chứng khoán lên cơn sốt, nhiều doanh nghiệp nhà nước muốn cổ phần hóa và lên sàn. Tuy nhiên, họ đã trở tay không kịp, bởi giá chứng khoán lên rất nhanh mà xuống cũng rất nhanh. Trong các trường hợp cổ phần hóa, tôi tiếc nhất là Vietcombank. Ngân hàng này đã chuẩn bị kế hoạch cổ phần hóa từ 2 năm trước đó. Nhưng lúc Vietcombank sắp triển khai thì thời cơ đã qua đi (giá chứng khoán rớt xuống).

Các nhà đầu tư chiến lược cũng rất háo hức, bởi họ đánh giá cao Vietcombank về nhiều mặt. Nhưng họ đã cảm thấy bị tổn thương, khi Ngân hàng buộc phải lấy giá IPO (chào bán lần đầu ra công chúng) làm cơ sở tham khảo để ra giá với các đối tác chiến lược. Và khi chứng kiến sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước đối với Vietcombank, các đối tác chiến lược lo ngại điều này sẽ còn tiếp tục. Bởi lẽ, Vietcombank, tuy là ngân hàng cổ phần, nhưng phần vốn nhà nước vẫn chiếm đa số.

Một số ý kiến cho rằng, sự tham gia của những doanh nghiệp lớn sẽ tạo sự sôi động cho thị trường chứng khoán và kéo giá chứng khoán lên. Bà nghĩ sao về vấn đề này?

Các nhà đầu tư đã kỳ vọng như thế khi có tin Vietcombank lên sàn và hàng loạt ngân hàng cổ phần có sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Sau Vinamilk, người ta tin rằng Việt Nam đã sẵn sàng nhân rộng mô hình. Thị trường có lên có xuống, nhưng sự thất bại của Vietcombank trong việc cổ phần hóa đã tạo ấn tượng khá xấu trong mắt nhà đầu tư nước ngoài, làm họ mất niềm tin, vì sự do dự khi ra quyết định và sự can thiệp quá sâu của Nhà nước.

Thủ tướng chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2010 sẽ cổ phần hóa khoảng 500 doanh nghiệp lớn, nhất là các công ty mẹ của tập đoàn nhà nước. Nhưng thực tế, trong 3 năm qua, chỉ tiến hành cổ phần hóa hơn 200 doanh nghiệp, hầu hết là các đơn vị độc lập nhỏ, hoặc là thành viên của tập đoàn, chứ còn các tổng công ty lớn của nhà nước vẫn chưa hề được đụng đến. Đến nay, số doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa chỉ chiếm khoảng 20% vốn nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước nói chung. Tức là 80% vốn nhà nước vẫn còn đọng ở 1.500 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên còn lại.

Lý do thực sự của việc chậm trễ trong cổ phần hóa là gì?

Thứ nhất, chủ trương của Nhà nước cũng không triệt để. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, sau 4 năm khi luật này có giá trị thi hành (từ ngày 1.7.2006), tất cả các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển sang hoạt động theo luật này và Luật Doanh nghiệp nhà nước không còn giá trị nữa. Tức là đến ngày 1.7.2010 sẽ không còn các doanh nghiệp nhà nước theo kiểu cũ nữa mà phần lớn sẽ được cổ phần hóa. Và Nhà nước chỉ giữ 100% vốn ở một số doanh nghiệp dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với con số vài trăm chứ không phải hàng ngàn như hiện nay. Những doanh nghiệp đó thuộc những ngành thiết yếu như công nghiệp nặng, hoặc hạ tầng lớn.

Nhưng khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, lại xuất hiện một suy nghĩ khác. Người ta cho rằng trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh, rất cần những doanh nghiệp nhà nước mạnh để đóng vai trò là “quả đấm thép”. Và ý tưởng cổ phần hóa để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước bằng sự tham gia của xã hội đã được thay bằng ý tưởng dồn hết nguồn lực của Nhà nước vào việc xây dựng những tập đoàn mạnh để làm đối trọng với các đối tác bên ngoài. Các doanh nghiệp lớn bắt ngay được tín hiệu rằng họ đang ở trong diện được củng cố và tăng cường chứ không phải diện bị cổ phần hóa. Và như vậy, tội gì mà họ phải vội vàng.

Còn đối với những cơ quan quản lý ngành, nếu cứ hăng hái thúc đẩy cổ phần hóa có khi bị quy kết là đi ngược lại chủ trương thành lập tập đoàn. Vậy tội gì “cầm đèn chạy trước ôtô”, vừa giữ được an toàn chính trị, vừa được hưởng lợi từ những doanh nghiệp nhà nước mà họ quản lý (vì khi hoàn tất cổ phần hóa, phần vốn nhà nước sẽ chuyển qua cho Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước quản lý).
Theo NCĐT

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang