Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo: Những định hướng lớn cho chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011- 2012

Đại Đoàn Kết - 09/09/2012 15:43

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm thu hẹp khoảng cách và trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn, giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Thành tựu xóa đói giảm nghèo trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống con người.


Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo, tạo sự chuyển biến nhanh, mạnh mẽ về đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, đồng bào dân tộc ít người, đảm bảo đến năm 2020 các huyện nghèo phát triển ngang bằng các huyện khác trong khu vực, Chính phủ đã ra Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo của cả nước. Sau hơn 3 năm thực hiện, đến nay nhiều địa phương đã và đang tiến hành nhân rộng mô hình giảm nghèo- một trong những dự án quan trọng nằm trong Đề án Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2011-2015.
Bắt đầu từ số báo Chủ nhật tuần này, Đại Đoàn kết mở chuyên mục thông tin tuyên truyền về Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo năm 2012
Chủ trương xóa đói giảm nghèo bền vững đang góp phần
rút ngắn khoảng cách giữa miền núi với miền xuôi
Phê duyệt khung kế hoạch giảm nghèo bền vững
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Khung kế hoạch triển khai Nghị quyết số 80/NQ-CP về Định hướng giảm nghèo bền vững từ năm 2011 đến năm 2020.
Để chương trình này triển khai hiệu quả, mỗi bộ, ngành sẽ có những nhiệm vụ cụ thể. Bộ LĐTB&XH sẽ chủ trì xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá, giám sát công tác giảm nghèo quốc gia; hệ thống chính sách dạy nghề, tạo việc làm... Các công việc này phải hoàn thành trong quý IV/2012. Đối với Ủy ban dân tộc, Thủ tướng giao nhiệm vụ xây dựng các chính sách đặc thù để hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn vùng dân tộc, miền núi. Trong quý IV năm nay phải xây dựng chính sách ưu đãi đặc thù thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, kinh tế đầu tư vào vùng dân tộc và miền núi. Đồng thời phải có chính sách bảo tồn, phát triển ngành nghề truyền thống cho các vùng dân tộc và miền núi; chính sách hỗ trợ hộ cận nghèo, hộ đã thoát nghèo ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi…Ngoài ra, Ủy ban dân tộc sẽ xây dựng dự án bảo tồn đối với các nhóm dân tộc ít người; xây dựng dự án định canh, định cư để hỗ trợ người dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn thường xuyên bị thiên tai. Chủ trì chỉ đạo tổ chức thực hiện Dự án đầu tư cơ sở tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi...
Về phía Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan này sẽ nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2012- 2015 theo hướng ưu tiên các vùng khó khăn, vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao. Đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thủ tướng yêu cầu phải xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cho hộ nghèo, cận nghèo; xây dựng đề án chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng mô hình hàng hóa cho hộ nghèo ở các xã, huyện nghèo và xây dựng tiêu chí ưu tiên cho các xã nghèo khi phân bổ nguồn lực Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Cùng với đó, trong quý IV/2012, Bộ Xây dựng phải hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với hộ nghèo có thu nhập thấp, hộ nghèo ở đô thị. Cũng trong quý IV/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách sản xuất, kinh doanh, tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn. Đồng thời xây dựng và hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi đào tạo cho học sinh, sinh viên nghèo.
Tiêu chí mới về thôn, bản đặc biệt khó khăn
Mới đây, Quyết định về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015 đã chính thức có hiệu lực. Dự kiến đến đầu năm 2013, sau khi triển khai xác định theo quyết định này, Ủy ban dân tộc sẽ có kết quả đầy đủ và chính xác về số thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi. Đây sẽ là căn cứ để triển khai các chính sách liên quan đến lĩnh vực này, trong đó có Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo.
Theo ông Nguyễn Văn Tân, Phó Chánh Văn phòng điều phối Chương trình 135, Ủy ban Dân tộc, việc xác định thôn, bản, xã đặc biệt khó khăn theo tiêu chí mới có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở để các cơ quan chức năng áp dụng các chính sách. Đây cũng là cơ sở cho các Bộ, ngành, địa phương xây dựng chính sách, lập kế hoạch phát triển phù hợp với đặc trưng của từng thời kỳ...
Bộ tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015 có ưu điểm đặc biệt là đã lược bớt được những chỉ tiêu định tính, lượng hóa cụ thể nhiều tiêu chí quan trọng, cũng như đã bám sát chỉ tiêu nông thôn mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, bình xét và xây dựng, triển khai chính sách.
Đơn cử như tiêu chí sản xuất tự cấp tự túc trong quy định trước đây rất khó hình dung, thì nay đã được lượng hóa bằng tỷ lệ trên 20% hộ thiếu đất sản xuất, trên 80% lao động chưa qua đào tạo nghề, chưa có cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thôn, bản; chưa có đường giao thông được cứng hóa từ trung tâm xã đến thôn theo tiêu chí nông thôn mới... Trên cơ sở lượng hóa số thôn đặc biệt khó khăn, Quyết định đã có tiêu chí cụ thể để xác định xã thuộc vùng dân tộc miền núi theo các khu vực. Ví dụ, xã đặc biệt khó khăn thuộc khu vực 3 phải có số thôn đặc biệt khó khăn từ 35% trở lên; tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo từ 35% trở lên, trong đó hơn 20% hộ nghèo...Cũng theo ông Tân, hiện nay vùng dân tộc miền núi có trên 22.000 thôn, bản và hơn 5.000 xã, phường, thị trấn. Căn cứ vào các tiêu chí vừa được ban hành, ước tính cả nước có khoảng 12.000 thôn, bản đặc biệt khó khăn; 1.500 xã khu vực III; 2.270 xã khu vực II và khoảng 1.300 xã khu vực I. Trong số này có khoảng gần 500 xã thuộc khu vực III là xã có nhiều núi đá, độ dốc lớn và thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai rất cần có chính sách đặc thù để hỗ trợ đồng bào định canh, ổn định cuộc sống.
Hiện nay Ủy ban dân tộc đang hoàn thiện văn bản hướng dẫn các địa phương thực hiện xem xét các xã theo tiêu chí mới, đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, chặt chẽ và khoa học.

Xã thuộc vùng dân tộc và miền núi được xác định theo 3 khu vực. Khu vực I là các xã bước đầu phát triển bằng hoặc tương đương mức bình quân chung của cả nước; Khu vực II là các xã tạm thời ổn định, nhưng chưa thật vững chắc, cơ sở hạ tầng đã hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh và vẫn còn các thôn, bản đặc biệt khó khăn; Khu vực III là các xã đặc biệt khó khăn, điều kiện sống, các dịch vụ xã hội hạ tầng cơ sở yếu kém. Trong khu vực III, đối với xã có nhiều núi đá, núi đất độ dốc cao, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai sẽ được ưu tiên đầu tư, hỗ trợ với cơ chế, chính sách riêng và được tính theo hệ số khó khăn (hệ số K) áp dụng cho từng khu vực khi phân bổ kinh phí thực hiện các chính sách.

M.Q
Gửi cho bạn bè Bản in