Ngày 31/7, Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã tổ chức hội thảo khoa học “Những vấn đề pháp lý quốc tế và quốc gia về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình”.
Đây là công trình khoa học cấp Nhà nước đầu tiên trong Chương trình KH-CN Vũ trụ của Việt Nam. Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế (Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội) đã được Bộ KH-CN và Viện KH-CN Việt Nam giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện đề tài trên. Đề tài được thực hiện trong hai năm (2009-2010).
Trong thời gian qua, Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã triển khai nhiều hoạt động thu thập, nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước, nghiên cứu chuyên đề với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực KH-CN vũ trụ và khoa học pháp lý. Hội thảo trên nhằm thảo luận, trao đổi, đóng góp ý kiến cho định hướng và nội dung nghiên cứu của Đề tài.
Ngoài nhóm các điều ước cơ bản về vũ trụ do Liên hợp quốc xây dựng, nhóm các văn kiện pháp lý liên quan đến việc sử dụng khoảng không vũ trụ của các tổ chức quốc tế, còn có trên 370 Hiệp định song phương và các văn bản pháp lý khác giữa các nước trên thế giới về vấn đề này.
Theo kết quả nghiên cứu bước đầu của Đề tài, hiện có nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật về hoạt động vũ trụ trong đó có thể kể đến hơn 10 quốc gia tiêu biểu, đó là: Hoa kỳ, LB Nga, Australia, Ahentina, Pháp, Đức, Thụy Điển, Ucraina, Anh, Hàn Quốc, Hà Lan, Nam Phi, Nhật Bản, Trung Quốc.
Việt Nam hiện đang thực hiện “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020” (theo Quyết định số 137/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/6/2006. Việt Nam cũng đang chuẩn bị dự án xây dựng Khu nghiên cứu và triển khai công nghệ vũ trụ triển khai trên diện tích 9 ha tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc với tổng nguồn vốn đầu tư 350 triệu USD vay ưu đãi ODA từ Nhật Bản. Việt Nam đã đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ làm chủ công nghệ chế tạo các trạm mặt đất, tự chế tạo các trạm mặt đất có giá cạnh tranh; làm chủ công nghệ vệ tinh nhỏ, tự thiết kế và chế tạo vệ tinh nhỏ quan sát trái đất; làm chủ được công nghệ và kỹ thuật tên lửa; chế tạo và phóng thêm một số vệ tinh nhỏ quan sát trái đất, thay thế một phần nhu cầu mua ảnh vệ tinh của nước ngoài; hoàn chỉnh hệ thống các trạm định vị nhờ vệ tinh.
Quá trình pháp điển hóa luật quốc tế về khoảng không vũ trụ đã được tiến hành ngay sau khi vệ tinh nhân tạo đầu tiên được phóng lên vũ trụ.
Ngày 11/11/1957, Liên hợp quốc ra Nghị quyết 1149 (XII) về giải trừ quân bị nhấn mạnh sự nguy hiểm của việc sử dụng các khoảng không vào mục đích quân sự.
Các nghị quyết 1348 (XIII), 1472 A (XIV) đã thành lập Ủy ban sử dụng hòa bình khoảng không vũ trụ. Ủy ban này đã chuẩn bị và giúp Liên hợp quốc thông qua một loạt các Tuyên bố, Hiệp ước về nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ như Tuyên bố về các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh hoạt động của các quốc gia nhằm khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ (Nghị quyết 1962 (XVIII) ngày 13/12/1963); Hiệp ước về các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc thăm dò và sử dụng các khoảng không vũ trụ, bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác thuộc hệ mặt trời (ngày 19/12/1966, có hiệu lực từ ngày 10/10/1967); Hiệp định về cứu hộ phi công vũ trụ, trao trả phi công vũ trụ và các phương tiện được đưa vào khoảng không vũ trụ ngày 22/4/1968 (Nghị quyết 2345 (XXII); Công ước về trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với các thiệt hại có nguyên nhân từ các phương tiện bay vũ trụ ngày 29/3/1972 (Nghị quyết 2777 (XXVI); Công ước về đăng ký phương tiện được phóng vào khoảng không vũ trụ ngày 14/1/1975 (Nghị quyết 3235 (XXIX); Hiệp định về hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác năm ngày 18/12/1979 (Nghị quyết 34/68); Tuyên bố về các nguyên tắc điều chỉnh việc các quốc gia sử dụng các vệ tinh nhân tạo của Trái Đất cho việc truyền sóng hình trực tiếp do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1982; Các nguyên tắc về sử dụng các nguồn năng lượng hạt nhân trong vũ trụ năm 1992.
Mai Hà
