Theo đánh giá của các chuyên gia LHQ, Việt Nam là một trong những nước có hệ thống pháp luật về phòng chống tham nhũng rất tốt, có thể nói là tốt nhất và toàn diện nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, vấn đề là việc thực thi luật pháp trên thực tế còn nhiều bất cập. Tham nhũng không chỉ tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh cho nền kinh tế non trẻ mà còn là “một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ” như Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã từng cảnh báo vào tháng 7/2006 tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng CS Việt Nam lần thứ 3, khóa X.
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký tham gia Công ước quốc tế về chống tham nhũng vào tháng 12/2003 ngay sau khi Công ước được Đại Hội Đồng LHQ thông qua vào tháng 7/2003. Thế nhưng chúng ta phải mất tới sáu năm để chuẩn bị cho việc phê chuẩn Công ước này. Trong thời gian này đã có 140 quốc gia tham gia, trong đó có 136 quốc gia đã phê chuẩn Công ước, cho thấy sự khó khăn trong thực tế của việc phòng chống tham nhũng tại Việt Nam.
Công ước quốc tế về chống tham nhũng của LHQ gồm 8 chương và 71 điều, chủ yếu đề cập tới các vấn đề: biện pháp phòng ngừa, các quy định về hình sự hóa, hợp tác quốc tế, thu hồi tài sản và hỗ trợ kỹ thuật. Trừ một số điều mang tính hướng dẫn thủ tục, còn lại, theo các chuyên gia pháp lý Việt Nam, Công ước có 237 yêu cầu, trong đó 135 yêu cầu mang tính bắt buộc (các quốc gia thành viên phải thực hiện trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc của Hiển pháp và luật pháp quốc gia), 38 yêu cầu mang tính chất khuyến nghị và 64 yêu cầu mang tính tùy nghi (các quốc gia thành viên không bắt buộc phải thực hiện). Cũng theo các chuyên gia pháp lý Việt Nam, mục tiêu của Công ước không trái với nguyên tắc Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và đường lối chính sách của Đảng CS Việt Nam. Pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ bản phù hợp với nội dung Công ước và đáp ứng được 135/135 yêu cầu mang tính bắt buộc; 61/64 yêu cầu mang tính tùy nghi; 37/38 yêu cầu mang tính khuyến nghị.
Quyết định phê chuẩn của Việt Nam đồng thời bảo lưu khoản 2, điều 66 của Công ước về tranh chấp giữa 2 hay nhiều quốc gia thành viên liên quan tới việc giải thích hay áp dụng Công ước mà không giải quyết được thông qua thương lượng. Việt Nam cũng tuyên bố không bị ràng buộc và không áp dụng trực tiếp các quy định về hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp tại điều 20 của Công ước này; việc thực hiện các quy định hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp sẽ theo nguyên tắc Hiến pháp và luật pháp thực định của Việt Nam trên cơ sở các thỏa thuận song phương hoặc đa phương với nước khác và trên nguyên tắc có đi có lại. Ngoài ra, Việt Nam còn tuyên bố kèm theo quyết định phê duyệt không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp về dẫn độ; việc dẫn độ sẽ theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ là nguyên tắc có đi có lại.
Như đã nói, ý nghĩa trước mắt của việc phê chuẩn Công ước là xây dựng một hình ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc hơn. Đồng thời Công ước cũng sẽ cung cấp cho Việt Nam một hệ tiêu chuẩn so sánh giúp tăng cường công tác giám sát và đánh giá tiến triển của công tác phòng chống tham nhũng dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế. Mặc dù Công ước có tính linh hoạt vì nó cho phép các nước thành viên áp dụng hay không áp dụng một số điều khoản tùy thuộc vào tính đặc thù của mỗi quốc gia và khung pháp lý của mình. Tuy nhiên, việc hỗ trợ pháp lý lẫn nhau giữa các nước thành viên được yêu cầu phải sử dụng tối đa trong suốt quá trình điều tra, khởi tố và xét xử những tội mà Công ước bao phủ. Một trong những yêu cầu hàng đầu để việc thực thi Công ước có hiệu quả là các quốc gia thành viên phải đảm bảo tính minh bạch trong quá trình ban hành và thực thi chính sách để làm sao công chúng có thể tiếp cận và tham gia vào đó. Việc thực thi Công ước còn đòi hỏi phải mở rộng hơn nữa phạm vi tham gia phòng chống tham nhũng như là các đối tác quốc gia cho các đối tượng ngoài khu vực nhà nước bao gồm các cơ quan báo chí, các tổ chức xã hội... Các thành phần này đều có thể tham gia vào công cuộc phòng chống tham nhũng một cách trực tiếp để vừa đảm bảo sự minh bạch và thực thi chính sách pháp luật vừa góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của hệ thống. Do vậy, quyền được tiếp cận thông tin của mọi người dân, của các tổ chức xã hội cũng là một yêu cầu bức thiết cần phải được luật hóa theo tinh thần của Công ước.
Hữu Nguyên