Chợ tro nổi Trà Thôn

Xem tin gốc 

Nhân dân - 25 tháng trước 43 lượt xem

Cho tro noi Tra Thon

ND - Gắn liền với sông nước Nam Bộ như một nét văn hóa riêng là các chợ nổi trên sông.

Chợ nổi là nơi trao đổi, mua bán nhiều loại hàng hóa với những chiếc ghe, chiếc xuồng bồng bềnh trên mặt nước và dễ dàng trong việc di chuyển, "họp chợ". Đã có những chợ nổi nổi tiếng và có quy mô lớn như chợ nổi Cái Răng (Tiền Giang); chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang); chợ nổi Long Xuyên (An Giang). Nhưng ở huyện cù lao Chợ Mới (An Giang) lại có một chợ nổi đặc biệt và chỉ buôn bán một thứ hàng hóa cũng đặc biệt, đó là chợ nổi mua bán tro ở Trà Thôn...

Huyện Chợ Mới là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An Giang, được sông Tiền, sông Hậu bao bọc và bồi đắp phù sa nên đất đai ở đây màu mỡ, thích hợp với việc trồng hoa màu. Chính vì thế, Chợ Mới luôn là địa phương dẫn đầu trong tỉnh về cung cấp hoa màu cho thị trường ở trong và ngoài tỉnh, có khi xuất sang Cam-pu-chia. Huyện cù lao này từ xưa đã nổi tiếng với câu lục bát: Chiều chiều quạ nói với diều - Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm. Và đã đi vào lời ca, làm say đắm lòng người: "Cái chợ có hồi nào và bao nhiêu tuổi? Mà ai cũng bảo rằng: Chợ Mới quê hương! Ở nơi đó, tôi có một người thương. Cứ chiều chiều nàng ra bờ sông giặt áo..." (Chợ Mới - Trọng Nguyễn). Vì thế Chợ Mới đã để lại trong tôi nhiều tình cảm tốt đẹp, để lần này về Chợ Mới, tôi đã tìm đến một chợ nổi đặc biệt ở xứ cù lao này.

Đi từ Long Xuyên, qua phà An Hòa, rẽ trái chạy thẳng trên đường mặc dù được tráng nhựa, nhưng cũng có nhiều đoạn đã xuống cấp, ổ gà lổm chổm. Hai bên đường nhà cửa lưa thưa, sau những ngôi nhà là cánh đồng rộng lớn. Đồng rộng nhưng ít lúa, mà nhiều loại hoa màu khác nhau như hành, bắp cải, cải xanh, khổ qua, bắp, khoai môn... Bà con đang cặm cụi chăm sóc từng công rẫy của mình. Làm rẫy thường cực hơn trồng lúa nhiều, phải thường xuyên tưới tiêu, thăm nom xem có bị sâu bọ ăn hay không, để điều trị kịp thời, nhưng bù lại, nếu trúng mùa và được giá thì làm rẫy cho thu nhập cao hơn trồng lúa nhiều lần. Thấy tôi hỏi đường về xóm tro Trà Thôn, anh Nguyễn Văn Mãi ở ấp Long Hòa, xã Long Điền B, mô tả và chỉ giúp rất rành mạch. Lên giữa cầu Trà Thôn thì dừng lại, nhìn xuống dòng kinh, thấy tấp nập ghe xuồng, đó chính là "chợ nổi" ở xóm tro Trà Thôn. Nghe anh Mãi mô tả rồi mà đến nơi, tôi vẫn cứ ngỡ ngàng trước một khúc kinh đầy ắp ghe xuồng, đang đong tro nhộn nhịp, nhưng cũng lắm bụi bặm.

Kinh Trà Thôn nối liền sông Tiền với sông Ông Chưởng, là con kinh vốn do người dân đào đất mà thành. Hai bờ kinh thuộc hai ấp Long Quới 1 và Long Quới 2 (xã Long Điền B), là nơi có nhiều hộ dân sinh sống bằng nghề mua bán tro đã hơn 20 năm nay, tập trung đông nhất khoảng một cây số ở đoạn đầu kinh Trà Thôn thông với sông Ông Chưởng. Theo lời bác Dương Văn Lâm đã sống ở vùng đất này hơn 60 năm kể thì:

- Sau ngày giải phóng mấy năm, ở nơi đây nhen nhóm "nghề tro". Lúc đầu có mấy hộ gia đình nghèo, không có đất canh tác, bỏ công đi hốt tro về bán cho nhà vườn chung quanh kiếm tiền lời. Mà đất mình ở đây tốt lắm, không có ai phải sử dụng đến tro cả, nên cũng khó bán. Bà con mới lấy ghe chở tro sang Đồng Tháp bán. Mà nói là ghe cho oai, chứ lúc đó chỉ là chiếc xuống chở được vài chục giạ tro thôi. Thấy có được chút lời, nhiều người cũng vào làm, và dần dần rồi đông đúc như ngày nay.

Từ sáng sớm tới tận chiều, "chợ nổi" tro ở Trà Thôn lúc nào cũng tấp nập ghe, những chiếc ghe nhỏ lúc nào cũng đầy ắp tro, còn ghe lớn thì neo tại chỗ, chờ thu mua tro. Chủ ghe lớn và chủ ghe nhỏ sau khi thống nhất giá cả xong là tiến hành đong tro từ ghe nhỏ sang ghe lớn. Khi ghe lớn đầy thì chủ nhổ neo, thế là bắt đầu một hành trình "xuất khẩu" tro ra ngoài tỉnh. Ngày nay, ở xóm tro Trà Thôn có khoảng 100 hộ dân sinh sống chủ yếu bằng nghề mua bán tro, và 100 hộ này được xếp nôm na thành ba thành phần: người bán, người thu mua, người làm công. Người làm công lo công việc đong, bê vác và trộn tro từ các ghe nhỏ sang ghe lớn, do chủ ghe lớn thuê. Mỗi khâu một người. Người trộn tro phải có "nghề", khi đổ tro xuống ghe, đồng thời phải trộn cho đều giữa "tro nhẹ" và "tro nặng", tiền công của mỗi người là 150.000 đồng/ngày. Đàn ông, phụ nữ hay thanh niên đều làm được. Xóm tro ở đây giải quyết được việc làm cho một số lao động tại địa phương, thu nhập lại tương đối cao. Nhưng công việc này thì cũng không được liên tục, những ngày mưa và những khi "ghe đi" thì tạm nghỉ, vì đa số mỗi ghe đều có "mối ruột".

Người bán - tức là chủ ghe nhỏ, thường chỉ có hai vợ chồng, ghe khoảng 10 tấn trở xuống, bỏ công đi thu gom tro ở trong tỉnh, cũng có khi đi tới Bến Tre, Trà Vinh. Mỗi chuyến đi thu gom được đầy ghe tro khoảng 10 ngày, rồi về bến Trà Thôn bán lại cho các ghe lớn với giá từ 4.000 đến 5.000 đồng một giạ (một giạ tro nặng hơn 10 kg). Trừ mọi chi phí, mỗi chuyến cũng lãi gần hai triệu đồng. Nghỉ ngơi vài ngày thế là tiếp tục một chuyến khác, cứ như thế, các ghe nhỏ đi thu gom tro quanh năm. Nghề thu gom tro cũng gian nan, vất vả, vì phải phơi nắng và hong lửa khi đốt rơm, lá cây tạp, rồi cho vào bao, vác từ ngoài đồng về ghe, có khi xa mấy cây số. Chị Hương - một chủ ghe nhỏ, nói với tôi: "Biết là cực nhưng cũng ráng làm. Nói vậy thôi, đó cũng là nghề đấy. Nhờ thu gom tro mấy năm nay mà vợ chồng tôi dành dụm, cũng cất được ngôi nhà để tránh gió tránh mưa, lại có tiền cho mấy đứa nhỏ đi học". Khuôn mặt của người phụ nữ lấm lem vì bụi tro bám vào, nhưng rạng ngời của niềm tin vào công việc, vào hy vọng mấy đứa con sẽ học hành đàng hoàng để thoát khỏi đói nghèo. Nhìn chị làm việc, nghe chị nói, tôi hiểu hơn thế nào giá trị của lao động chân chính.

Người thu mua tro hay còn gọi là chủ ghe lớn - thông thường thì ghe từ 35 tấn trở lên, có ghe gần 70 tấn, sẽ thu mua tro ở các "ghe nhỏ", tại sông Trà Thôn rồi chở đi bán ở Đồng Tháp, Long An, Bình Dương,... và nhiều nhất là ở Tây Ninh. Mỗi chuyến đi như thế mất từ bảy ngày đến mười ngày, trừ mọi chi phí và nếu được giá (khoảng 8.000 - 9.000 đồng/giạ) thì lãi từ ba đến năm triệu đồng đối với ghe khoảng 35 tấn trở lên. Phần lớn những chủ ghe này, ở nhà đều có vựa, những lúc hàng nhiều thì họ "ém" lại bằng cách đưa lên vựa, chờ lúc hiếm hàng thì "bung" ra. Thông thường vào khoảng tháng 8, tháng 9, tức thời điểm chuẩn bị xuống giống cho vụ mùa mới thì lúc đó hiếm hàng, giá nhỉnh lên chút ít. Chị Lê Thị Tuyết, là chủ ghe hơn 35 tấn, kể: "Mỗi chuyến đi như thế, chúng tôi thường nán lại vài ngày để xem có ai thuê chở gì về không, hoặc là mua bột mì về bán lại cho mấy hầm cá ở Thốt Nốt cho cá ba sa ăn, cũng kiếm được lãi thêm một triệu đồng, chứ chạy ghe về không thì uổng lắm". Chị Tuyết còn cho biết thêm, ở Tây Ninh chủ yếu là đất đỏ, nhiều sỏi đá, nên phải tráng lên mặt đất một lớp tro thì mới có thể gieo trồng tốt, nên ở nơi đó lúc nào cũng cần mua tro.

Nếu mọi việc suôn sẻ, thì nghề buôn bán tro cũng đem lại thu nhập tương đối cao cho người dân nơi đây. Trên thực tế, ngày nay nghề buôn bán tro cũng gặp nhiều "truân chuyên" với những ghe lớn chở đi bán ở ngoài tỉnh, thường tập trung nhiều nhất ở Tây Ninh. Chú Lê Quang Sơn, có hơn 15 năm trong nghề, nói rằng: "Buôn bán tro bây giờ cũng có lúc èo uột lắm. Người đi bán đông quá, có khi tập trung cùng một lúc tại Tây Ninh, thừa hàng, phải neo ghe lại, hay phải bán với giá thấp hơn thường ngày. Thêm nữa, đi chuyến nào cũng hao hụt rất nhiều, bởi thương lái bây giờ "ranh" lắm, cái "ky" đong tro của họ lớn hơn cái thúng của mình, nhưng không ai dám nói, sợ họ không mua". Tôi thắc mắc, hỏi chú Sơn: "Như vậy là mình bán cho thương lái, chứ không trực tiếp bán cho nhà vườn". Chú Sơn gật đầu và nói thêm, tâm lý chung của những người đi ghe là tranh thủ bán cho nhanh, không để neo lâu dưới ghe, vì đâu có vốn dự trữ, bằng mọi cách phải bán cho xong và kiếm cái gì trở về dù lời ít một chút cũng không sao. Vả lại mình có quen chủ vườn nào trên đó đâu mà liên hệ bán. Nghe lời tâm sự của chú Sơn, chúng tôi hiểu nghề buôn bán tro, nói thế nhưng bây giờ cũng lắm bấp bênh.

Còn với gia đình cô Trần Thị Thiểu, một trong những chủ ghe tro đầu tiên và có tải trọng lớn - hơn 50 tấn, ghe của cô cứ đi quanh năm, không lúc nào gián đoạn. Cô có hơn mười ghe nhỏ đi thu gom tro là "mối ruột", gia đình cô cho các chủ ghe nhỏ này tạm ứng tiền trước để thu gom tro về bán lại rồi mới trừ tiền, nên lúc nào trong vựa cũng có tro dự trữ, ghe lớn về là cứ đong tro lên và đi tiếp, chủ yếu vẫn là chở ra Tây Ninh. Ở Tây Ninh, cô cũng có một vựa tro ở đó, cứ ghe nào ra là đưa tro lên vựa. Gia đình cô tự liên hệ với nhà vườn, thỏa thuận xong là giao tro tới tận nơi, lại còn "gối đầu" trước cho nhà vườn, thậm chí đến kỳ thu hoạch mới lấy tiền tro. Nghĩa là gia đình cô bán tro thẳng cho nhà vườn, không thông qua thương lái, nên giá cả cũng tương đối cao. Như vậy, thì cần phải có vốn để đầu tư "gối đầu" cho các nhà vườn ở Tây Ninh.

Qua lời tâm sự của một số chủ ghe tro, tôi thấy nổi cộm hai vấn đề cần giải quyết: đó là làm sao tại xóm tro Long Điền B này "điều tiết" được lượng tro xuất ra ngoài tỉnh một cách hợp lý; và làm thế nào để tại nơi tiêu thụ của các chủ ghe không bị thương lái chèn ép giá. Hai vấn đề này rất cần chính quyền địa phương, các ngành chức năng có liên quan có biện pháp giải quyết, tạo sự phấn khởi cho bà con ở xóm tro này. Có như thế thì mới giúp duy trì được làng nghề "độc nhất vô nhị" này, cũng là góp phần giải quyết việc làm, đem lại thu nhập ổn định cho bà con ở xóm tro Trà Thôn.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang