Điều đáng nói là quyết định hỗ trợ lãi suất ngân hàng nhưng lại cho phép các doanh nghiệp thu mua lúa gạo tạm trữ theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh trong tình hình lúa hè thu đang vào vụ và rớt giá liên tục. Ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết, giá thành sản xuất lúa vụ hè thu ở tỉnh này là 3.000đ/kg, trong khi quyết định thu mua phải căn cứ vào giá thị trường, mà giá thị trường ở khu vực này hiện đang ở dưới mức 3.000đ/kg. Theo một lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, giá thành sản xuất lúa ở đây trên dưới 4.000đ/kg, cao hơn giá đang thu mua trên thị trường hiện nay khoảng 1.200đ/kg nên dù có được hỗ trợ lãi suất 0% cũng không có doanh nghiệp nào dám mua.
Được biết, lúa gạo là một trong những mặt hàng nằm trong chương trình bình ổn giá, nên giá thành sản xuất lẽ ra phải được Bộ Tài chính công bố, trên cơ sở đó mà quyết định giá sàn thu mua trước khi vụ thu hoạch diễn ra để đảm bảo quyền lợi cho người nông dân. Thế nhưng từ nhiều năm qua, việc tính toán và công bố giá sàn luôn hết sức chậm trễ và đôi khi không được quan tâm đúng mức. Đại diện Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho rằng, việc tính toán và công bố giá thành đã được giao về cho các tỉnh vì giá thành giữa các địa phương chênh lệch quá lớn, Bộ rất khó đưa ra một mức giá thống nhất. Lãnh đạo các địa phương trồng lúa thì lo ngại, khi doanh nghiệp được phép tự quyết định mua theo giá thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ không thể mua cao hơn giá thị trường vì sẽ bị lỗ nặng. Còn nếu cho phép doanh nghiệp mua theo thời giá thì nông dân sẽ lãnh đủ và có nguy cơ thúc đẩy việc rớt giá thêm nặng nề hơn.
Theo tính toán của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), lượng lúa hàng hóa vụ hè thu ở ĐBSCL sẽ vào khoảng 2 triệu tấn. Ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch VFA cho biết, việc lúa hè thu ế ẩm, rớt giá có nguồn gốc từ khâu dự báo kém. Cuối năm 2009, dự báo xuất khẩu gạo năm 2010 của Việt Nam rất khả quan khi đưa ra nhận định Ấn Độ - nước sử dụng nhiều lương thực sẽ mất mùa và có khả năng sẽ nhập khẩu lương thực. Tuy nhiên, diễn biến tình hình ngược lại, khi không chỉ Ấn Độ mà nhiều nước khác trên thế giới lại trúng mùa. Điều này khiến giá gạo xuất khẩu giảm liên tục mà doanh nghiệp không thể lường được.
Lúa gạo là một trong những mặt hàng không chỉ góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam mà còn liên quan tới vấn đề an ninh lương thực. Nếu mọi hậu quả do công tác dự báo, lập kế hoạch, điều hành… còn thiếu sót của nhà chức trách cuối cùng đều đè nặng trên vai nhà nông thì thật không công bằng. Nhiều ý kiến cho rằng, việc hỗ trợ doanh nghiệp thu mua tạm trữ lúa đồng thời với cho phép doanh nghiệp thực hiện thu mua theo cơ chế thị trường sẽ không đảm bảo chắc chắn nguồn hỗ trợ đó được doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích. Nhà nước cần có chính sách thu mua tạm trữ lúa gạo hàng năm với giá sàn công bố cho từng vụ lúa trước khi thu hoạch. Đây phải là công việc của Bộ Tài chính, trên cơ sở các tính toán thực tế đảm bảo cho nông dân có lãi tương xứng. Như vậy, nguồn tiền hỗ trợ của Nhà nước sẽ trực tiếp đến với từng người trồng lúa. Sau đó, nếu doanh nghiệp nào bị lỗ khi thực hiện chủ trương tạm trữ sẽ được Nhà nước sẽ bù vào. Các chính sách hỗ trợ cho người trồng lúa cần phải được thực thi trên cơ sở lợi ích trực tiếp của nhà nông và bởi những cơ quan chức năng không phụ thuộc lợi ích với ngành kinh doanh lúa gạo. Có như vậy, mới tránh được tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” trong các cơ chế chính sách về thu mua, xuất khẩu lúa gạo trong thời gian qua và kết quả là phần lớn sự hỗ trợ của Nhà nước đã không tới tay nhà nông như mong đợi.
Lê Phái