Chính phủ quy định khái niệm về Tập đoàn, Tổng công ty như thế nào?

Tamnhin.net - 

(Tamnhin.net) - Về phía Chính phủ, ông Nguyễn Trọng Dũng, Vụ trưởng Vụ đổi mới doanh nghiệp Văn phòng Chính phủ trong buổi Tọa đàm "Nhà nươc và doanh nghiệp" khẳng định: Hiện Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đang xem xét về vấn đề quy định chung đối với việc đặt tên doanh nghiệp có cụm từ tập đoàn, tổng công ty gắn với một số tiêu chí nhằm thống nhất về vấn đề này đối với tất cả các thành phần kinh tế.

Ông Nguyễn Trọng Dũng, Vụ trưởng Vụ đổi mới doanh nghiệp Văn phòng Chính phủ.

Hàng năm các DNNN, nòng cốt là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, đã đóng góp khoảng 35% GDP của cả nước, tạo ra 39,5% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu). Hiện nay cả nước có 101 tập đoàn, tổng công ty và 01 ngân hàng thương mại do Nhà nước giữ 100% vốn.

Hiện tại, đã có 12 tập đoàn kinh tế nhà nước được thí điểm thành lập, hầu hết dựa trên nền tảng của các tổng công ty 90, 91 có quy mô lớn về vốn điều lệ và tài sản, được thí điểm trong hầu hết các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

Đối với khu vực tư nhân, hiện nay có một số nhóm doanh nghiệp tư nhân theo mô hình tập đoàn như: Công ty cổ phần FPT, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Bitexco. Theo số liệu từ Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, tính đến nay đã có 673 doanh nghiệp sử dụng cụm từ “tập đoàn” và 241 doanh nghiệp sử dụng cụm từ “tổng công ty” trong đặt tên doanh nghiệp.

Điều 149 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp đã làm rõ hơn khái niệm về tập đoàn kinh tế :

Các tập đoàn kinh tế thực hiện chế độ báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định tại Điều 148 Luật Doanh nghiệp, công ty mẹ lập Báo cáo tài chính hợp nhất của nhóm công ty theo quy định của pháp luật về kết toán; Báo cáo tổng hợp kết quả kinh doanh hàng năm và Báo cáo tổng hợp công tác quản lý, điều hành của nhóm công ty (Bộ Tài chính có các quy định hướng dẫn cụ thể tại Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC và Thông tư số 23/2005/TT-BTC).

Theo ông Dũng thì hiện khung pháp luật về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý, giám sát tập đoàn kinh tế nhà nước đã được hình thành theo phương thức thận trọng, từng bước, "vừa làm vừa rút kinh nghiệm" với việc ban hành các văn bản pháp quy điều chỉnh từng tập đoàn kinh tế nhà nước và thực hiện sơ kết sau 03 năm thực hiện thí điểm.

Hiện nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đang xem xét về vấn đề quy định chung đối với việc đặt tên doanh nghiệp có cụm từ tập đoàn, tổng công ty gắn với một số tiêu chí nhằm thống nhất về vấn đề này đối với tất cả các thành phần kinh tế.

Nghị định 101/2009/NĐ-CP đã quy định rõ hơn về xác định địa vị pháp lý và tên gọi của TĐKT; Về tổ chức thực hiện quy định về kiểm soát viên đối với các TĐKTNN; Về việc thực hiện quản lý nhà nước và thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với các TĐKT; Về việc thực hiện kinh doanh đa ngành để bảo đảm các TĐKTNN tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh chính đã được Nhà nước giao; Về việc tham gia của các thành phần kinh tế vào các TĐKTNN; Việc các TĐKT đầu tư thành lập và kiểm soát một số ngân hàng, sau đó sử dụng ngân hàng để tài trợ cho các kế hoạch mở rộng của mình; Về việc đầu tư ngược trong TĐKT.

Tuy nhiên theo ông Dũng thì hiện khung pháp lý về thí điểm thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý, giám sát TĐKTNN có một số tồn tại:

Chưa tạo thành một thể thống nhất, đồng bộ; chưa phù hợp với đặc điểm của tập đoàn kinh tế nhà nước: Khung pháp luật hiện hành liên quan đến TĐKTNN gồm nhiều loại quy định khác nhau: (i) quy định chung áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp, bị chi phối bởi Luật Doanh nghiệp; (ii) các quy định riêng về TĐKTNN; (iii) quy định áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.

Nhiều nội dung liên quan đến thành lập, quản lý điều hành, nguyên tắc quản lý giám sát của chủ sở hữu nhà nước chưa được quy định cụ thể, chi tiết hoặc chưa có hướng dẫn gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện cũng như tạo ra sự tùy tiện trong tổ chức thực hiện:

Hầu hết quy định về điều kiện thành lập TĐKTNN chưa được định lượng hóa, đồng thời vẫn có sự không rõ ràng giữa điều kiện để được thành lập và điều kiện để tồn tại là một TĐKTNN trong quá trình hoạt động.

Chưa có quy định về cơ chế tổ chức, phối hợp các đầu mối thực hiện quyền, nghĩa vụ chủ sở hữu nhà nước; việc quản lý, giám sát của chủ sở hữu và trách nhiệm của các cơ quan liên quan nên khó có thể phát hiện nhanh, kịp thời những vẫn đề của TĐKTNN để điều chỉnh.

Chưa có quy định về việc giám sát việc thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân công thực hiện.

Một số quy định hiện hành chưa bao quát hết được phương thức thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước, chưa phù hợp với thực tế và đặc thù của từng tập đoàn kinh tế nhà nước:

Hiện nay, có 03 loại ý kiến về sự cần thiết phải ban hành quy định pháp luật riêng để điều chỉnh tổ chức và hoạt động đối với tập đoàn kinh tế là:

Không cần phải ban hành riêng quy định pháp luật để điều chỉnh về tổ chức và hoạt động đối với các TĐKT. Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan hiện hành đã đủ để điều chỉnh

Cần thiết phải ban hành riêng quy định pháp luật để điều chỉnh về tổ chức và hoạt động đối với các TĐKT thuộc tất cả các thành phần kinh tế vì đây là một hình thức tổ chức liên kết doanh nghiệp mới so với các hình thức doanh nghiệp đã có từ trước đến nay.

Cần thiết phải ban hành riêng quy định pháp luật để điều chỉnh về tổ chức và hoạt động đối với các TĐKT nhưng chỉ đối với các TĐKT nhà nước để điều chỉnh những vấn đề liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với phần vốn đầu tư tại các TĐKT.

Vì vậy, theo ông Dũng hiện nay chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung thể chế, hành lang pháp lý cho các tập đoàn kinh tế, tổng công ty như sau:

- Hoàn thiện khung khổ pháp luật về tổ chức và hoạt động của tập đoàn kinh tế và quản lý, giám sát của Nhà nước đối với tập đoàn kinh tế.

- Bổ sung các quy định pháp lý liên quan đến cơ chế hoạt động tài chính, giao dịch thương mại nội bộ tập đoàn, tổng công ty…

Ban hành chuẩn mực kế toán, các biểu mẫu báo cáo: báo cáo tài chính hợp nhất, quy định minh bạch hóa và công khai giao dịch tài chính giữa các doanh nghiệp thành viên. Ban hành nguyên tắc quản trị, minh bạch hóa thông tin trong tập đoàn.

- Có quy định về mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân nhằm tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình hình thành, phát triển các nhóm doanh nghiệp tư nhân theo mô hình tập đoàn.

- Ban hành quy định về tiêu chí sử dụng cụm từ “tập đoàn”, “tổng công ty” trong đặt tên doanh nghiệp để tương xứng với quy mô của doanh nghiệp, góp phần làm minh bạch hóa thông tin của doanh nghiệp.

Tại buổi Tọa đàm này, về phía Bộ Tài chính, Thứ Trưởng Trần Văn Hiếu khẳng định: Trong thời gian tới Chính phủ, Bộ Tài chính sẽ có cớ chế pháp lý, quản lý, yêu cầu các Tập đoàn, Tổng cồn ty công khai minh bạch tài chính. Cũng theo Thứ trưởng Hiếu, việc xây các văn bản quy định pháp lý về mặt tài chính trong việc quản lý các doanh nghiệp đang bộc lộ nhiều thiếu sót cần có sự tham gia đóng góp, bổ sung của các chuyên gia, các cấp, các ngành để hoàn thiện đáp ứng nhu cầu quản lý các Tập đoàn, Tổng công ty hiện nay.

KTTĐ