Tại phiên họp, Chính phủ đã dành nhiều thời gian thảo luận các báo cáo: Tình hình kinh tế-xã hội sáu tháng đầu năm 2009, dự báo và các giải pháp chủ yếu trong sáu tháng cuối năm do Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình; diễn biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, tình hình triển khai các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế do Bộ Tài chính trình; kiểm điểm chỉ đạo điều hành sáu tháng đầu năm và Chương trình công tác sáu tháng cuối năm 2009 của Chính Phủ do Văn phòng Chính phủ trình; công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đấu tranh phòng, chống tham nhũng sáu tháng đầu năm 2009 do Thanh tra Chính phủ trình; tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính Quý II – 2009 do Bộ Nội vụ trình; tình hình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam do Bộ Ngoại giao trình. Về tình hình kinh tế-xã hội sáu tháng đầu năm 2009, dự báo và các giải pháp chủ yếu trong sáu tháng cuối năm 2009, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: Trong sáu tháng đầu năm, nhờ sự thống nhất cao trong lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành tập trung, quyết liệt của Chính phủ và nỗ lực của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và toàn dân, nền kinh tế mặc dù đang gặp rất nhiều khó khăn, nhưng chỉ ở mức suy giảm chứ không rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế; đồng thời đang có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Việc triển khai thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội đã đạt được những kết quả bước đầu, được sự đón nhận, đồng tình, ủng hộ của toàn dân, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội và các tổ chức quốc tế. Chính trị, xã hội tiếp tục được ổn định. Những khó khăn về sản xuất, giải quyết việc làm và đời sống nhân dân đang được tháo gỡ. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) sáu tháng đầu năm ước đạt 3,9% (cùng kỳ năm trước tăng 6,4%). Giá trị sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm tăng 4,8% so cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 16,5%). Nguyên nhân sản xuất công nghiệp tăng thấp là do gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Thị trường xuất khẩu bị thu hẹp. Nhiều mặt hàng quan trọng của ngành công nghiệp lượng tồn kho lớn, tiêu thụ chậm, buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất. Tuy tăng thấp, nhưng sản xuất công nghiệp có chuyển biến nhanh qua từng tháng. Sau khi giảm sâu trong tháng 1, ngành công nghiệp liên tục có tốc độ tăng trong năm tháng tiếp theo (tháng 2 tăng 4,1%, tháng 3 tăng 2,4%, tháng 4 tăng 5,6%, tháng 5 tăng 7,2%, tháng 6 tăng 8,2%). Kim ngạch xuất khẩu sáu tháng giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, nhưng hai tháng gần đây đã tăng so với tháng trước (tháng 5 tăng 2,8%, tháng 6 tăng 6,5%). Chỉ số giá tiêu dùng sáu tháng đầu năm dao động ở mức thấp, nhưng có xu hướng đang tăng lên… Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và mức độ tác động tới các nước cũng như khả năng và thời điểm ra khỏi khủng hoảng của từng nước rất khác nhau, phụ thuộc vào kết quả ứng phó của mỗi nước và sự phối hợp chung toàn cầu. Qua sáu tháng đầu năm cho thấy, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đã và sẽ còn tác động lớn tới mọi quốc gia trong một thời gian khá dài nữa. Căn cứ vào dự báo tình hình kinh tế thế giới và trong nước thời gian tới, các thành viên Chính phủ cũng đã nhất trí triển khai thực hiện năm giải pháp chủ yếu đó là: Thực hiện có hiệu quả các giải pháp kích cầu, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009; tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả, thúc đẩy giải ngân các nguồn vốn đầu tư, khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển; điều hành linh hoạt chính sách tài chính, tiền tệ, có các giải pháp kịp thời nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa tái lạm phát; tiếp tục tổ chức thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội đã ban hành; tăng cường các biện pháp tổ chức thực hiện, điều hành tập trung, quyết liệt, tăng cường công tác thanh tra hướng vào việc thực hiện các chính sách kích cầu, ngăn chặn suy giảm kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Kết luận vấn đề này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao các báo cáo chuyên đề và ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự phiên họp. Thủ tướng nhấn mạnh: Sáu tháng đầu năm 2009, kinh tế thế giới tiếp tục suy giảm sâu, tác động lớn đối với kinh tế nước ta, cụ thể: Kim ngạch xuất khẩu giảm 10% so với cùng kỳ năm ngoái mặc dù số lượng xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực đều tăng; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm mạnh; kiều hối giảm… Bên cạnh đó, những yếu kém của nền kinh tế nước ta như hạ tầng, năng lực cạnh tranh, thủ tục hành chính, sự chống phá của các thế lực thù địch… chưa được khắc phục triệt để. Tuy nhiên, nhờ nỗ lực chung của toàn Đảng, toàn dân, kinh tế đất nước đã vượt qua nhiều khó khăn. Chúng ta đã thực hiện được mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì mức tăng trưởng hợp lý, mặc dù mức tăng trưởng còn thấp nhưng cũng đã tạo được đà tăng trưởng cho những tháng tiếp theo. Sáu tháng cuối năm tăng trưởng kinh tế phải đạt 6%, là một nhiệm vụ hết sức khó khăn nhưng nhờ có đà tăng trưởng của những tháng đầu năm tạo niềm tin cho việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009. Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm của nền kinh tế cũng như sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, đó là: Nền kinh tế còn nhiều khó khăn, tiềm ẩn nhiều vấn đề về kinh tế vĩ mô. Xã hội còn khó khăn về việc làm và đời sống. Điều hành của Chính phủ có những vấn đề, những thời điểm còn chậm, cần làm rõ trách nhiệm, thủ tục, năng lực của cán bộ các cấp, các ngành trong việc chậm trễ này. Về mục tiêu nhiệm vụ sáu tháng cuối năm, Thủ tướng đề nghị bám chặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009 vừa được Quốc hội điều chỉnh, phấn đấu đạt cao hơn mức 5%; Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, giữ lạm phát ở mức tăng 7%, không để lạm phát quay trở lại; bảo đảm các mục tiêu an sinh xã hội. Thủ tướng Chính phủ cũng nhất trí tiếp tục triển khai thực hiện năm giải pháp mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề ra nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội sáu tháng cuối năm, trong đó nhấn mạnh các giải pháp: Thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng cường xuất khẩu đồng thời mở thêm thị trường trong nước; tăng cường đầu tư, trong đó phải sử dụng hết nguồn vốn ngân sách Nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ; tập trung công tác dự báo, phối hợp xây dựng chính sách và điều hành kịp thời và hiệu quả hơn; tiếp tục làm tốt công tác thông tin tuyên truyền tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội. Tại phiên họp này, Chính phủ cũng đã thảo luận và cho ý kiến: Báo cáo tình hình soạn thảo và trình các dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ Quý II – 2009 do Bộ Tư pháp trình; Tờ trình Chính phủ về Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14-12-2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Bộ Nội vụ trình; Tờ trình Chính phủ về Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 1-8-2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31-12-2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Tờ trình Chính phủ về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi) do Ngân hàng Nhà nước trình; Tờ trình Chính phủ về dự án Luật Các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước trình. * Chiều 7-7, tại Hà Nội, Văn phòng Chính phủ đã tổ chức Họp báo Chính phủ thường kỳ dưới sự chủ trì của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Cùng tham dự họp báo còn có đại diện lãnh đạo các bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Công thương, Thông tin và Truyền thông, Y tế và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sau khi thông báo những nội dung chính Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6-2009, đại diện các bộ, ngành tham dự họp báo đã trả lời một số câu hỏi của các nhà báo về các vấn đề liên quan tình hình phát triển kinh tế-xã hội sáu tháng đầu năm và những giải pháp phát triển kinh tế-xã hội sáu tháng cuối năm 2009, trong đó tập trung vào một số vấn đề: Chung quanh công tác điều hành giá xăng, dầu hiện nay; tín dụng ngân hàng liên quan việc hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ; lộ trình công khai hóa thủ tục hành chính của các cấp, các ngành và Chính phủ.