Chịu nhiều sức ép cạnh tranh nước ngoài, ông Bartlett vừa mới phải đóng cửa nhà máy sản xuất bo mạch in, được thành lập 57 năm trước bởi cha của ông và sa thải thêm 87 nhân công. Tuần trước, ông đã cho bán đấu giá máy móc và sẽ sớm phải dẹp bỏ xưởng sản xuất ở Cary này.
Ông Bartlett buồn rầu nói, “chúng tôi đã không còn kham nổi thuế bất động sản, bởi vậy tôi sẽ phải rỡ bỏ nhà xưởng và ngồi chờ với hy vọng có thể bán được mảnh đất này sau khi cuộc suy thoái qua đi khi mà giá đất mong rằng sẽ tăng lên.”
Mặc dù ngành công nghiệp chế tạo vẫn trượt dài trong thời gian qua, những việc làm mà các nhà máy phải cắt giảm mới đặc biệt đáng lo ngại, với gần 2 triệu việc làm mất kể từ khi cơn suy thoái bắt đầu vào tháng 11 năm 2007. Thậm chí, một số ít giám đốc điều hành của các công ty phải chuyển dần hoạt động sản xuất ra nước ngoài cũng đang bắt đầu bày tỏ quan ngại.
Ông Jeffrey R. Immelt, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của General Electric nói trong một bài phát biểu tháng trước trong khi thừa nhận rằng G.E. cũng đang phải dựa vào lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, “chúng ta phải có một sự cam kết nghiêm túc đối với nhành chế tạo và xuất khẩu.”
Trên thực tế tổng thống Obama cũng đồng ý với điều đó và đã tuyên bố rằng, “cuộc chiến của ngành sản xuất cũng chính là cuộc chiến cho tương lai nước Mỹ.”
Nước Mỹ xếp sau mọi quốc gia công nghiệp ngoại trừ Pháp trong phần trăm đóng góp của sản xuất vào các hoạt động của nền kinh tế khi mà con số này chỉ là 13.9%, theo một báo cáo của World Bank, giảm 4% trong vòng một thập kỉ. Cuộc suy thoái 19 tháng vừa qua đã làm mức giảm này tăng rõ rệt. Sản xuất công nghiệp đã giảm 17.3%, mức sụt giảm rõ rệt nhất trong suốt một cuộc suy thoái kể từ những thập niên 30.
Tuy nhiên, chính quyền của tổng thống Obama vẫn chưa đi đến một kế hoạch cụ thể chính thức để đối mặt với mức giảm nhanh này. Thay vì thế, họ lại đang theo đuổi một ý tưởng khác: chẳng hạn như thực hiện cứu trợ tài chính cho General Motors và Chrysler và thúc đẩy tiến trình năng lượng xanh bằng sự ủng hộ cho các kế hoạch sản xuất nhắm vào những mục tiêu như tuabin gió và các tấm pin mặt trời.
Ông Matthew Rogers, một cố vấn cao cấp của bộ Năng lượng nói, “chúng ta cần chắc chắn rằng chúng ra đang xây dựng một cơ sở sản xuất cho những mục tiêu năng lượng tái sinh. Ông giải thích rằng hướng phát triển này đã được thống nhất một phần qua việc đẩy nhanh những khoản bảo đảm tiền vay từ con số không trong những năm dưới chính quyền tổng thống Bush.
Xunming Deng, một nhà vật lý và là chủ tịch công ty Xunlight nhận thấy những lợi ích mà mình có thể tìm kiếm được từ các khoản bảo đảm tiền vay, mà theo ông, là linh hoạt hơn dưới thời chính quyền tổng thống mới. Nhà máy của ông tại Toledo, Ohio, với 100 nhân viên đang bắt đầu vào sản xuất những tấm pin mặt trời, và ông Deng đang có kế hoạch mở rộng quy mô của cơ sở này lên 4 lần. Ông đã gửi đề nghị tới bộ Tài chính cho một khoản bảo đảm tiền vay trị giá 120 triệu đô la. Nếu được chấp thuận, ông sẽ không phải trả những gánh nặng chi phí cho bảo đảm tiền vay trước khi tổng thống Obama lên nắm quyền nữa.
Ông Deng nói, “trút bỏ được chi phí đó khiến cho khoản bảo đảm tiền vay trở nên hữu ích và thu hút. Chúng tôi không thể phát triển nhanh như thế nếu không có nó.”
Ngoài năng lương, mục tiêu của chính quyền hiện nay là định hình dần những cơ sở của một chính sách dành cho ngành chế tạo, điều mà ông Lawence H. Summbers, giám đốc của Hội đồng kinh tế nhà nước mô tả như “những nhân tố thúc đẩy sản xuất.”
Cứu trợ cho ngành công nghiệp xe hơi có thể coi như một ứng biến tức thời khi chính phủ hầu như sẵn sàng ứng cứu bất cứ nhà sản xuất khổng lồ nào mà sự sụp đổ của nó có thể gây ảnh hưởng lớn và nặng nề, và giúp các nhà cung cấp cho những “người khổng lồ bị gục ngã này” chuyển hướng sang các ngành công nghiệp khác.
Điều khoản Buy America trong gói kích cầu là nhắm tới tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua những hàng hóa làm từ Mỹ đầu tư vào những kế hoạch cơ sở hạ tầng. Bộ Thương Mại đã đã tăng thêm 100 triệu đô la, gấp đôi mức kinh phí hiện tại cho một chương trình giúp những nhà sản xuất Mỹ hoạt động hiệu quả hơn. Và hiệp định thương mại được khởi xướng bởi chính quyền tổng thống Bush, qua đó nước Mỹ sẽ mở cửa hơn cho những hàng hóa nhập khẩu, đang dần bị quên lãng trong những cuộc họp Quốc hội.
Nghị sĩ hạ viện ông Sander M. Levin, đảng viên đảng Dân chủ của bang Michigan người đặc biệt quan tâm đến việc nhập khẩu xe hơi nói, “những chính sách của chính quyền hiện thời đang đi theo đúng hướng. Tôi nghĩ rằng họ đã cơ bản đưa ra được những hạn chế chính trị đối với vai trò của chính phủ trong ngành công nghiệp chế tạo. Họ đang làm những gì mà họ thấy có tác dụng nhất.
Không phải mọi người đều đồng ý như vậy.
Ông Bartlett nói đầy khinh miệt, “Bush và Obama, cả hai đều tệ hại trong những chính sách dành cho ngành công nghiệp chế tạo.”
Ông thừa nhận rằng cuộc suy thoái là một lý do trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ kinh doanh của gia đình ông. Nhưng ông nói trong một cuộc phỏng vấn rằng nguyên nhân thực sự đằng sau đó là sự cạnh tranh từ phía những bảng mạch giá rẻ của Trung Quốc. Ông lập luận rằng, giá cả như vậy là do Trung Quốc đã cố hạ giá trị đồng nội tệ của họ trong khi chính quyền hiện thời cũng như dưới thời người tiền nhiệm vẫn để cho mọi việc tiếp tục diễn ra.
Ông nói, “những đơn đặt hàng của chúng tôi đã giảm từ 8 triệu đô la hàng năm xuống còn 4 triệu, không thể làm ra lợi nhuận.”
Ông Bartlett, cũng là đồng chủ tịch của tổ chức Liên minh tiền tệ công bằng, nói rằng những đối thủ cạnh tranh Trung Quốc chỉ phải trả 1 đô la cho mỗi bảng mạch in bán được ở Mỹ trong khi công ty ông phải trả đến 1.4 đô la. Cũng giống nhiều nhà kinh tế và quan chức chính phủ, ông tin rằng giá trị đồng nhân dân tệ đã bị kìm giữ thấp hơn mức giá trị thực. Ông nói rằng chính quyền tổng thống Obama nên áp dụng hàng rào thuế quan 40% cho những sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc như một biện pháp trả đũa.
Ông nói, “tôi có thể đương đầu được với những doanh nghiệp Trung Quốc và giá cả lao động rẻ của Trung Quốc cũng không phải là vấn đề lớn. Nhưng tôi không thể chống lại những chính sách dành cho sản xuất của chính phủ nước này.”
Ngành công nghiệp chế tạo xưa nay vẫn được coi như là trụ cột của một nền kinh tế vững mạnh. Nó sản sinh ra hàng triệu việc làm tốt cho những người chỉ mới tốt nghiệp trung học, chiếm phần đông trong thành phần dân số. Theo những nhà kinh tế không có một khu vực nào đóng góp nhiều hơn cho toàn bộ nền sản xuất của một quốc gia. Và khi ngành công nghiệp chế tạo yếu đi, nền kinh tế sẽ trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào các hoạt động thương mại nhập khẩu, máy điện toán, máy móc và những mặt hàng tương tự. Điều này sẽ làm tăng thâm hụt thương mại, có thể làm yếu đi sức mạnh của đồng đô la Mỹ và khả năng duy trì nhập khẩu của quốc gia này.
Một phương sách để củng cố vững mạnh khu vực chế tạo, theo quan điểm của chính quyền hiện thời là những điều chỉnh chính sách thuế. Một nhân viên cao cấp của bộ Thương mại cho biết, chính sách miễn thuế cho các hoạt động R&D hiện đang là mục tiêu đổi mới của Quốc hội, sẽ được tiến hành thường xuyên, khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển của các nhà sản xuất. Và thuế ngoại quốc trả cho những khoản lãi ở nước ngoài sẽ chưa được khấu trừ trong nước cho đến khi những lợi nhuận kiếm được đó trở về. Đây là một hạn chế đối với những cơ sở sản xuất có ý định đầu tư ra nước ngoài.
Mục tiêu là kiềm giữ lại một khu vực chế tạo đang thu hẹp dần. Ông Thea Lee, giám đốc chính sách của A.F.L.-C.I.O nói, “đó là trụ cột của những gì đã làm nên tầng lớp trung lưu hiện nay và thật khó để trong đợi khôi phục lại tầng lớp ấy