Một đêm nọ, người lính coi kho đột tử ở đây. Người lính khác đến thay thế, ngủ được mấy đêm thì kêu là bị “ma” đè vào ngực, anh ta xin thuyên chuyển đi chỗ khác. Phòng Hành chính lại cử một anh lính “già”, có thâm niên thượng sĩ đến thay thế. Nhưng anh thượng sĩ trải đời này cũng chẳng ở được lâu. Thấy chuyện có gì đó bất tiện nếu dư luận bùng ra, Phòng Hành chính quyết định không cần người coi kho nữa. Vả lại, kho nằm ngay trong khuôn viên cơ quan Bộ tư lệnh, quá an toàn, cần gì phải coi! Từ đó căn phòng ấy bỏ không, khóa cửa im lìm, cỏ mọc phủ bậc cửa.
Tôi về nhận nhiệm vụ tại cơ quan Bộ tư lệnh Quân chủng từ tháng 2 năm 1979. Tháng 4 năm 1980, Trần Đăng Khoa được điều về Quân chủng Hải quân, cùng làm việc trong Nhà Văn hóa với tôi. Hồi Khoa chưa về, tôi ở cùng phòng với sáu người trong cơ quan. Cứ khoảng 9 giờ 30 phút đêm, nghe tiếng kẻng là tất cả phải lên giường, tắt đèn ngủ. Dạo ấy tôi mới được đăng những truyện ngắn, bút ký đầu tay và đang rất ham viết. Đêm đến, chờ anh em trong phòng ngủ say, tôi lại lặng lẽ thức dậy, dòng dây kéo cái bóng điện ra hè ngồi kê tập giấy lên đùi mà viết. Đến khi Khoa về, cũng bắt chước tôi viết lách kiểu ấy. Một lần, ông Ngô Thế Lãng, Chủ nhiệm Nhà Văn hóa đi trực ban trông thấy, sáng hôm sau, ông gọi chúng tôi lên:
- Kể ra, hai cậu làm cái việc thơ phú mà xếp ở chung phòng với nhiều người là bất tiện lắm. Nhưng đến như trung tá mà vẫn phải ở chung hàng chục người một phòng! Bây giờ chỉ còn gian phòng ở phía ngoài cùng dãy nhà kho là bỏ trống vì anh em đồn đại căn phòng ấy có… ma! Anh em lính tráng trẻ người non dạ, thần hồn nát thần tính, tưởng tượng ra đủ thứ ma mãnh rồi sợ. Còn các cậu, nhà thơ, nhà văn, lại đeo hàm sĩ quan, chẳng nhẽ cũng tự xếp mình ngang với loài cáy? Nếu nhất trí, tôi sẽ đề nghị cơ quan xếp cho hai cậu ở gian phòng ấy…
Trần Đăng Khoa đưa mắt nhìn tôi thăm dò. Tôi thì không phải đắn đo gì, nói luôn:
- Vâng, nếu có ma thật thì chúng tôi càng được trải nghiệm chuyện sống chung với ma để còn đưa vào văn chương chứ ạ.
Thế là chiều hôm ấy, tôi và Khoa nhận chìa khóa về ở căn phòng có “ma”. Anh em trong cùng Nhà Văn hóa cũng đến giúp chúng tôi dọn dẹp. Mấy quân nhân nữ còn dán lên vài ba bức tranh phong cảnh làm cho căn phòng sáng sủa và ấm áp hẳn lên. Khi ngả lưng nằm thử, Trần Đăng Khoa tỏ ra rất hài lòng, bảo tôi:
- Ở như thế này cũng là lý tưởng rồi!
- Với tôi thì được như thế này cũng là quá tốt! Tôi phụ họa - À, hỏi thật nhé, ông đã gặp ma bao giờ chưa?
- Gặp rồi - Trần Đăng Khoa đáp - Hồi tôi còn thiếu niên, có chị phụ trách tên là Duyên, rất xinh đẹp. Không may chị ấy bị bệnh tim, chết trẻ. Mà người chết trẻ là vong hồn linh thiêng lắm. Dạo tôi mới nhập ngũ, nhiều đêm thấy chị ấy hiện về, nói chuyện với tôi y như hồi chị ấy còn sống. Tôi cũng không thể nhớ rành mạch là lúc ấy tôi thức hay ngủ. Nếu tôi ngủ thì đó chỉ là những giấc mơ. Nhưng nếu tôi thức, hiện tượng đó không là ma thì là gì? Vậy còn ông, đã gặp ma bao giờ chưa?
- Hồi còn nhỏ tôi thường đi câu cá trê ban đêm ở những cái đầm ngoài cánh đồng có khu nghĩa địa - tôi nói - Vào những đêm trở trời, tôi thường nhìn thấy những đốm sáng mang hình thù rất kỳ dị cứ lập lòe. Người ta gọi đó là ma trơi…
- Vậy là cả ông và tôi đều đã đối mặt với ma - Khoa nói - thế thì dù căn phòng này có ma thật, chúng ta đâu có ngán!
Nói thế thôi, chứ những đêm hai thằng đều ngủ ở phòng thì không sao, nhưng cứ mỗi lần tôi đi công tác qua đêm không về, Khoa lại ôm chăn màn lên phòng trực ban ngủ nhờ. Còn tôi, hôm nào Khoa đi công tác qua đêm, tôi lại chống lại nỗi sợ bằng cách cứ chong đèn suốt đêm ngồi viết hoặc đọc một cuốn sách nào đó.
Có những đêm mưa rất to. Nước từ bên ngoài tràn vào phòng ngập gót chân. Tôi và Khoa lại lấy chậu thay nhau tát bì bõm. Muỗi thì nhiều vô kể. Mùa đông, chúng tôi phải xỏ vào chân hai lần tất; mùa hè thì bật quạt hết công suất cho muỗi dạt vào một góc mới yên tâm ngồi viết.
Tuy nhiên, từ ngày chúng tôi đến ở căn phòng có “ma”, nơi khuất nẻo nhất cơ quan Bộ tư lệnh thì “sinh khí” chừng như cứ sáng sủa, hanh thông dần lên. Căn phòng trở thành nơi hội tụ của nhiều anh em yêu thích văn học trong cơ quan. Bởi ngày ấy những quân nhân mang quân phục màu nước biển có một tình yêu rất mãnh liệt với văn chương. Mỗi lần tôi hoặc Khoa được đăng một bài thơ hay một truyện ngắn thì hôm ấy người nọ truyền tin cho người kia, rồi cả cơ quan biết, cứ bàn tán xôn xao. Căn phòng có “ma” thì thế nào cũng diễn ra một cuộc liên hoan khao nhuận bút. Nói là khao nhưng thực ra nhiều hôm anh em bạn bè không để chúng tôi phải chi tiền nhuận bút, họ tự ra chợ mua thức ăn mang đến nấu nướng bày biện ăn uống vui vẻ, gọi là mừng cho chúng tôi có thêm sức khỏe mà viết.
Tại căn phòng có “ma”, Trần Đăng Khoa đã viết những bài thơ đánh dấu một giai đoạn sáng tác mới của anh như: Thơ tình của người lính biển, Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Cây bão táp trên đảo Nam Yết, Lính đảo hát tình ca trên đảo… Cũng tại đây, Khoa bắt đầu ghé sang văn xuôi bằng bản thảo tập truyện ký Đảo chìm. Khoa cứ viết xong một phần lại bắt tôi dừng mọi việc lại nghe anh đọc và xin một vài lời góp ý. Đến thời kỳ thơ của Khoa và truyện ngắn của tôi có biểu hiện “bùng phát” trên các báo và tạp chí, người ta không gọi nơi ở của chúng tôi là căn phòng có “ma” nữa, họ chuyển sang gọi là căn phòng “phát lộc”, căn phòng “vượng khí văn chương” một cách rất tự nhiên.
Từ bấy đến nay đã 30 năm. Khoa và tôi bây giờ đều sống ở Hà Nội. Tuổi thì cũng đã qua ngũ tuần. Thỉnh thoảng gặp nhau, nói về những kỷ niệm thời mặc áo lính màu xanh nước biển, cái mà chúng tôi nhớ nhất, có nhiều điều để nói nhất, ấy chính là căn phòng có “ma”.
Lê Hoài Nam